Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2013

Sự tích hoa hồng bạch


Câu chuyện này xảy ra vào thời mà những khu vườn còn ngập tràn cỏ dại, các loài hoa rất hiếm và chưa có hương thơm, còn hoa hồng chỉ có một màu đỏ thắm.

Ở một làng quê nọ, nơi một dòng sông nối liền với biển, có hai đứa trẻ chơi rất thân với nhau, cô bé có mái tóc dài đen mượt, còn tóc cậu bé màu vàng tơ. Buổi sáng tinh mơ, khi mặt trời còn chưa tròn, hai đứa trẻ đã cùng nhau vui đùa trong sóng biển hay mải mê tìm kiếm những viên đá màu xanh. Buổi chiều muộn, lúc mặt trăng đã hiện dần vành vàng nhạt màu, cả hai vẫn còn ở trong rừng hái cho nhau những chùm quả dại ngọt lịm. Tháng ngày như thế trôi qua, nhưng chưa bao giờ cậu bé được nghe giọng nói của cô bé, vì cô bị câm từ thuở nhỏ. Và thay vì kể chuyện cho cô, cậu hát cho cô nghe những bài ca cuả những dân du mục thường cưỡi ngựa qua làng, những bài ca của những người đánh cá khi cả đoàn thuyền kéo về những con cá lớn, những bài ca về câu chuyện dòng sông… Hai đứa trẻ dần lớn lên, và rồi cậu bé đi học việc theo đoàn thuyền đánh cá, còn cô bé ở nhà với bố mẹ làm vườn. Cậu vẫn thường hát cho cô nghe, nhưng những sáng tinh mơ mặt trời hay những chiều tà mặt trăng không còn nữa.

Ngày cậu bé tròn mười lăm tuổi, đoàn thuyền đánh cá mở hội gia nhập cậu. Suốt một ngày sẽ vui chơi, và buổi tối các cô bé sẽ tặng cậu hoa để rồi sớm hôm sau, cậu sẽ theo đoàn thuyền ra khơi. Chiều hôm ấy, có cô bé tóc vàng con một người đánh cá đến hỏi cô phải làm gì. Và cô rủ cô bé ấy đi tìm hoa vì cô biết những khu vườn nhiều hoa đẹp nhất. Nhưng vào mùa hè nóng bỏng ấy, ánh nắng chói chang đã làm khô đi nhiều cây cối, suốt buổi chiều bọn trẻ đi rất xa mà chỉ tìm được vài bông hồng nhỏ. Khi mặt trời dần lặn, hai cô bé sợ lạc, và cô bé tóc vàng đứng lại trên con đường nhỏ đợi những bác thợ đi qua để hỏi lối về.

Còn lại một mình, cô bé tóc đen vui chạy như một cánh chim từ vườn này sang vườn khác, cô rẽ từng khóm lá, từng rặng cây để tìm chọn. Một làn gió dịu dàng, man mát bỗng đưa bước chân cô đến một vườn hoa, nơi một khóm hồng đỏ thắm như đang chờ đợi. Ôm vào ngực những nụ hồng chúm chím, cô lặng mình hôn lên những cánh hoa. Lạ kỳ làm sao, những bông hoa bỗng tỏa hương thơm ngọt ngào, dịu nhẹ. Vui sướng, cô nhắm mắt và thầm nghĩ “cám ơn trời, trời đã ban cho bạn những bông hoa này qua tôi”, và nước mắt cô chảy dài trên má, khẽ rơi xuống những cánh hoa. Khi mở mắt, cô ngây người đi trước vẻ đẹp lạ lùng của những bông hoa. Nước mắt cô đã làm phai đi màu đỏ, những cánh hoa bên ngoài đã mang sắc trắng, và bên trong phơn phớt màu hồng. Những nụ hoa thẹn thùng, trong trắng như e ấp, dịu dàng trên ngực cô, trong vòng tay cô.

Khi cô quay trở lại, cô bé tóc vàng đã hỏi được đường về, và cả hai cùng chạy đến nhà cậu bé. Đến gần khu vườn nhà cậu, mái tóc của cô bay theo gió và vướng vào bụi gai, cô càng gỡ càng thêm rối. Đưa cho cô bé tóc vàng bó hồng, cô giữ lại cho mình một nụ hoa, nụ hoa bé nhỏ nhất. Đứng sau lùm cây, cô bé như nghe thấy tiếng hát của cậu bé, và bên những cành lá rì rào trong gió, cô tưởng tượng nụ cười thân thương của cậu, nụ cười của mặt trời những sáng tinh mơ và mặt trăng những khi chiều tà.

Nụ hồng của cô bé đã nở ngày hôm sau và bên cô luôn có hương thơm thoang thoảng. Rồi một sớm tinh mơ, khi mặt trời còn chưa tròn, cô bé đem cành hồng ra vườn trồng. Sáng sáng cô tưới chút nước và chăm sóc cho cây hồng bé nhỏ của mình. Mùa hè qua đi, mùa thu rồi hết mùa đông, khi mùa xuân đến, cô bé mừng vui thấy những nụ hồng đầu tiên chúm chím hé nở. Và dù cô bé không còn hôn lên những nụ hoa, dù nước mắt cô không bao giờ còn chảy trên những cánh hoa, thì kỳ diệu thay, những bông hồng mới vẫn mang hương thơm dịu ngọt và màu trắng phớt hồng.

Từ đó loài hoa hồng bạch ra đời.

Cô gái ở cửa hàng bán đĩa CD


  


    Có một chàng trai bị bệnh ung thư. Chàng trai 19 tuổi, nhưng có thể chết bất kỳ lúc nào vì căn bệnh quái ác này. Suốt ngày, chàng trai phải nằm trong nhà, được sự chăm sóc cẩn thận đến nghiêm ngặt của bố mẹ. Do đó, chàng trai luôn mong ước được ra ngoài chơi, dù chỉ một lúc cũng được.

    Sau rất nhiều lần năn nỉ, bố mẹ cậu cũng đồng ý. Chàng trai đi dọc con phố - con phố nhà mình mà vô cùng mới mẻ - từ cửa hàng này sang cửa hàng khác. Khi đi qua một cửa hàng bán CD nhạc, chàng trai nhìn qua cửa kính và thấy một cô gái. Cô gái rất xinh đẹp với một nụ cười hiền lành - và chàng trai biết đó là " Tình yêu từ ánh mắt đầu tiên".

    Chàng trai vào cửa hàng và lại gần cái bàn, nơi cô gái đang ngồi.

    Cô gái ngẩng lên hỏi:

    - Tôi có thể giúp gì được anh? - Cô gái mỉm cười và đó quả là nụ cười đẹp nhất mà chàng trai từng thấy.

    - Ơ... - Chàng trai lúng túng - Tôi muốn mua một CD...

    Chàng trai chỉ bừa một cái CD trên giá rồi trả tiền.

    - Anh có cần tôi gói lại không - Cô gái hỏi, và lại mỉm cười.

    Khi chàng trai gật đầu, cô gái đem chiếc CD vào trong.

    Khi cô gái quay lại với chiếc CD đã được gói cẩn thận, chàng trai tần ngần cầm lấy và đi về.

    Từ hôm đó, ngày nào chàng trai cũng tới cửa hàng, mua một chiếc CD và cô gái bán hàng lại gói cho anh. Những chiếc CD đó, chàng trai đều đem về nhà và cất ngay vào tủ. Anh rất ngại, không dám hỏi tên hay làm quen với cô gái. Nhưng cuối cùng, mẹ anh cũng phát hiện ra việc này và khuyên anh cứ nên làm quen với cô gái xinh đẹp kia.

    Ngày hôm sau, lấy hết can đảm, chàng trai lại đến cửa hàng bán CD. Rồi khi cô gái đem chiếc CD vào trong để gói, anh đã để một mảnh giấy ghi tên và số điện thoại của mình lên bàn. Rồi anh cầm chiếc CD đã được gói như tất cả mọi ngày đem về.

    Vài ngày sau...

    " Reeeeng!..."

    Mẹ của chàng trai nhấc điện thoại:

    - Alô?

    Đầu dây bên kia là cô gái ở cửa hàng bán CD. Cô xin gặp chàng trai nhưng bà mẹ oà lên khóc.

    - Cháu không biết sao? Nó đã mất rồi...hôm qua.

    Im lặng một lúc. Cô gái xin lỗi, chia buồn rồi đặt máy.

    Chiều hôm ấy, bà mẹ vào phòng cậu con trai. Bà muốn sắp xếp lại quần áo của cậu nên đã mở cửa tủ. Bà sững người khi nhìn thây hàng chồng, hàng chồng CD được gói bọc cẩn thận chưa hề được mở ra.

    Bà mẹ rất ngạc nhiên nên cầm lên một chiếc mở thử ra.

    Bên trong hộp giấy bọc là một chiếc CD cùng với một mảnh giấy ghi:" Chào anh, anh dễ thương lắm - Jacelyn."

    Bà mẹ mở thêm một chiếc CD nữa.Lại thêm một mảnh giấy ghi:" Chào anh, anh khỏe không? Mình làm bạn nhé? - Jacelyn."

    Một chiếc CD nữa, một chiếc nữa... Trong mỗi chiếc là một mảnh giấy...

    Trong mỗi cử chỉ đều có thể tiềm ẩn một món quà. Giá như chúng ta đừng ngần ngại mở những món quà mà cuộc sống đem lại.

   

Vì anh là nắng và em là mưa



"Vì anh là nắng và em là mưa! Mãi mãi chỉ có thể bước đi song song, như phản chiếu cho mối tình không hồi kết..."

..........

Lần đầu tiên em và anh gặp nhau, là một ngày mưa. Cơn mưa phùn nhanh chóng qua đi, vương lại những viên giọt lệ thuỷ tinh trong suốt khắp mọi nơi. Và khi nắng lên, hong khô vạn vật, em và anh đi lướt qua nhau. Cuộc sống vốn hối hả, một cái liếc mắt nhìn nhau có lẽ cũng chẳng đủ để anh chú ý đến em, nhưng không hiểu vì lý do gì, từ ánh mắt, nụ cười đến hình bóng anh cứ thế in sâu vào trái tim em.

Ngày nhập học, em gặp lại anh, lúc này em mới biết anh là hội trưởng hội học sinh, là đàn anh được con gái toàn trường ngưỡng mộ, còn em, chỉ là một con nhóc không có gì đặc biệt, từ ngoại hình đến tính cách của em vốn chẳng hề có thể thu hút một ai. Em hiểu rõ, anh là ánh nắng mặt trời rạng rỡ, còn em chỉ là một cơn mưa lặng lẽ, vội đến vội đi, đâu thể lưu lại điều gì trong lòng ai? Mười sáu tuổi, em đã đủ lớn để cảm nhận những rung động của trái tim mình và nâng niu, trân trọng nó, cũng chính vì thế mà em không thể quên anh.

Một ngày đẹp trời, cơn mưa bóng mây thoảng qua, em bắt đầu đi làm thêm ở một quán café nhỏ, một là kiếm thêm chút tiền, hai là khiến cho không có khoảng thời gian trống nào để nhớ về anh. Nhưng em đâu có ngờ, anh cũng đi làm thêm ở đó, và cùng là "lính mới" giống em. Lúc chạm mặt nhau ở quán, anh và em tròn mắt nhìn nhau, rồi lại cùng kêu lên "a" một tiếng, số phận đúng là thật trớ trêu đúng không anh? Anh đã từng đi làm thêm ở một quán khác rồi mới chuyển về đây làm nên anh rất thành thạo trong việc pha các loại café, còn em thì lại vụng về lóng ngóng, lẫn hết cả lên, nếu không nhờ anh giúp đỡ thì chắc em bị bà chủ quán "quét" ra ngoài cửa lâu rồi! Em cảm thấy mình rất hạnh phúc khi được ở kề cận bên anh như vậy… thật đấy, em không đùa đâu! Nhưng quãng thời gian hạnh phúc đó không kéo dài được bao lâu, trái tim em bị bao phủ bởi những tầng mây đen u ám, và giông tố ập đến khiến trái tim em nhỏ lệ…bởi em đã biết…anh chỉ coi em như một đứa em gái…không hơn không kém…đúng không anh?

..........

"Anh này! Mẫu người lý tưởng của anh là gì?" – em vừa lau bàn, vừa cất tiếng hỏi anh.

"Ừm…." – anh xoa cằm, cười cười – "là một cô gái đáng yêu, vui vẻ, hoà đồng, và quan trọng là…", đột nhiên anh dừng lại, ra vẻ thần bí làm tim tôi đập thình thịch.

"Là gì? Xinh đẹp? Học giỏi? Nhà giàu?" – em luôn mồm hỏi.

"Không" – anh xua xua tay – "quan trọng là, cô ấy phải rất yêu anh!"

Em thở phào một hơi, nghĩ thầm: "tưởng gì, điều kiện đó thì mình có thừa!"

Em tiếp tục hỏi: "Thế anh đã yêu ai chưa?"

"Có chứ!" – anh nháy mắt, cười khì khì.

"Ai? Em à?" – em vênh mặt, làm ra vẻ trêu đùa nhưng thực chất em căng thẳng đến mức tim muốn văng ra ngoài.

Anh phì cười, xoa đầu em: "Ăn nói vớ vẩn, anh đánh cho bây giờ! Nhóc như em gái anh ý! Yêu đương gì?"

Khoảng khắc đó, anh biết không? Trái tim em tưởng chừng như bị ai đó bóp nghẹn, sau đó lại vỡ tan như thứ pha lê trong suốt. Hoá ra, em yêu anh nhiều hơn em nghĩ... Nhưng chúng ta... có lẽ sẽ không thể chạm đến được đến nhau đâu... anh à... Đành phải cười hi hi ha ha:

"Anh em không yêu nhau thì ghét nhau à?"

...........

Anh càng dịu dàng, quan tâm em bao nhiêu thì em càng đau đớn bấy nhiêu, bởi em biết, anh chỉ như chăm sóc em gái mình. Em biết mình không có cơ hội, không nên tiếp tục mối tình trong vô vọng này. Nhưng mỗi khi đêm về, em lại nhớ anh quay quoắt, để rồi lại thiếp đi với những giọt nước mắt còn rớt lại trên gò má. Thế nhưng em vẫn ích kỷ, vẫn muốn được ở bên anh, vẫn hy vọng, thay đổi được lòng anh. Cơn mưa bóng mây là thời khắc hiếm hoi khi mưa và nắng gặp nhau, nhưng cơn mưa đó cũng kết thúc rất nhanh, như chưa từng xảy ra, chưa từng xuất hiện.

...........

"Em! Anh muốn hỏi ý kiến em một chuyện…" – Anh vỗ vai em, cười ngượng ngùng.

Em quay lại, trêu anh: "Có chuyện gì thế? Anh mà cũng biết hỏi ý kiến em cơ đấy, lúc nào cũng ra vẻ biết tuốt, không sợ trời không sợ đất cơ mà!"

Anh không để ý đến lời trêu chọc của em, nghiêm túc nói: "Anh có chuyện muốn hỏi ý kiến em thật đấy!"

Em ngừng cười, hỏi lại với vẻ hơi ngạc nhiên: "Ừm, anh hỏi đi, nhìn mặt nghiêm trọng thế chẳng lẽ có chuyện gì rồi hay sao?"

Đột nhiên, anh trở nên lúng túng, mặt đỏ bừng: "Anh…anh định tỏ tình với người ta…"

Tim em đập thình thịch, lòng tự hỏi hàng ngàn, hàng vạn lần: "Là ai mà có thể biến anh trở thành một con người rụt rè và dễ xấu hổ đến vậy? Là ai? Có lẽ... có lẽ nào là mình không?"

Em cố làm ra vẻ bình tĩnh, đáp: "Anh phải nói muốn tỏ tình với ai thì em mới giúp được chứ!"

Anh gãi đầu gãi tai, nói: "Không...không phải giúp mà là cho ý kiến thôi, anh sợ nếu nói ra lòng mình mà cô ấy không thích anh, còn lảng tránh anh nữa thì anh không biết phải làm sao..."

"Ừm, nói chung...người ấy là ai?"

"Là...là một bạn cùng lớp anh..."

Em đờ người ra, rồi quay người lại với anh, nói: "Là cái chị hoa khôi đó hả?"

"Ừm, đúng..."

Em xoay đầu, cười thật tươi với anh: "Hai anh chị rất xứng đôi mà, trai tài gái sắc, lần trước em nghe mấy chị lớp anh bàn tán là chị ấy từng nói là rất thích anh. Anh mà tỏ tình nhất định sẽ thành công thôi."

Mắt anh sáng lên, lộ rõ vẻ hưng phấn, anh hỏi dồn dập: "Thật không? Em không lừa anh đấy chứ? Em có chắc chắn không? Có khi nào những lời đó là giả không?"

Em gật mạnh đầu, đưa tay vỗ lên vai anh: "Thật!!"

Anh ôm chầm lấy em, cười to: "Được rồi! Anh đến chỗ hẹn với cô ấy luôn đây! Nhất định hôm nay anh phải nói ra hết lòng mình!"

"Anh hẹn chị ấy hả?"

Anh với tay cầm lấy cái mũ lưỡi trai, rồi xoa xoa đầu em, cười nhẹ: "Ừ! Thôi anh đi nhé!"

Anh vội vã bước ra khỏi quán, đi về phía cô gái ấy, mà đâu có ngờ những giọt nước mắt em vốn kìm nén từ từ rơi xuống nền đất lạnh giá đúng không anh?

"Ư...híc..."

Bật khóc nức nở, em đưa tay lên không ngừng lau đi những giọt nước trên khóe mắt, nhưng lau mãi vẫn không hết, càng lau càng nhiều, ướt đẫm cả ống tay áo mà vẫn chưa dứt.

Nếu lúc đó em ích kỷ hơn, em sẽ nói với anh là: "Đừng thổ lộ, chị ấy không thích anh." Thế nhưng em lại không thể nói ra câu đó, khi nhìn thấy ánh mắt đầy chờ mong của anh.

Nếu lúc đó em có đủ tự tin hơn, phải chăng em đã có thể nói: "Đừng đến với chị ấy, em yêu anh." Nhưng em không dám, vì em sợ rằng anh sẽ tránh mặt em. Sợ anh sẽ nói ra lời từ chối, sợ nó sẽ thành con dao bén nhọn cứa vào trái tim em.

Vì em quá yếu đuối...

Vì em không xứng với anh...

Và vì, em sẽ chẳng còn sống được bao lâu nữa...

..........

"Bác sĩ, con gái tôi sao rồi?"

"Cháu nó bị ung thư máu, giai đoạn cuối rồi. Anh chị phải chuẩn bị tinh thần, cháu bé không còn nhiều thời gian nữa đâu."

"Ông đừng đùa! Con tôi làm sao có thể... Nó mới học lớp 10 thôi mà..."

"Thật xin lỗi, nhưng gia đình đã đưa đến cháu quá muộn, chúng tôi không thể làm gì được nữa..."

"Tại sao...sao lại như thế được chứ..."

"Bác sĩ, con tôi liệu còn bao nhiêu thời gian nữa?"

"Chắc chỉ còn khoảng một tháng nữa thôi..."

Em đứng ngoài cửa sổ, chất giọng đều đều của ông bác sĩ, tiếng nấc nghẹn của mẹ, giọng trầm khàn của cha và tất cả những gì họ đã nói, em đều đã nghe hết.

Cuộc đời này em còn rất nhiều điều tiếc nuối, tiếc vì chưa báo hiếu được cho cha mẹ, tiếc vì không thể cùng bạn bè tiếp tục những trò quậy phá, và tiếc vì không được gặp anh sớm hơn... Nhưng rồi em cũng tự hỏi: "Gặp anh sớm hơn thì sao? Đằng nào cũng chết..."

Anh à, em vừa thấy buồn, vừa thấy may mắn khi anh thích người khác, không phải là em, vì như thế anh sẽ không quá đau khổ khi em ra đi...

Mà, liệu anh có đau khổ không? Dù chỉ một chút xíu... Có lẽ, đối với anh, em chỉ là một cơn mưa... Đến thì đến, đi thì đi... Em cũng đã đến lúc rời khỏi anh, đến lúc phải đi đến một nơi thật xa, thật xa… một nơi không có anh… Em sẽ coi như em với anh chưa từng gặp nhau, chưa từng trò chuyện, chưa từng có gì cả!

Tình yêu này là không thể, nó không sai, chỉ là em đã yêu người không thuộc về mình. Anh từng nói: "Mưa mạnh mẽ lắm, khóc xong thì hết buồn, lại sống tốt, lại làm bạn với nắng..." Nhưng anh không biết, mưa mạnh mẽ là vì có nắng ở bên... Nhưng đến một ngày, nắng đi mất, mưa chỉ còn một mình thì mưa sẽ yếu đuối đến mức nào, anh có biết không? Anh vĩnh viễn không thể nào biết được điều đó, vì anh là nắng, và em là mưa... Vì nắng và mưa quá khác biệt, vì sẽ đến lúc nắng rời bỏ mưa... Khi nắng biết, mưa yêu nắng... Thà rằng bây giờ, em rời bỏ anh trước, thì sẽ bớt đau khổ hơn, phải không?

Nắng yêu gió...

Mưa sẽ thử rời đi như một cơn gió, nhẹ nhàng, không lưu lại chút dấu vết...

Gió sẽ trở lại bên nắng, còn mưa thì không trở lại được nữa rồi...

Thời gian cho một đời người đã cạn, cũng như thời điểm kết thúc cho một cơn mưa đã hết...

Tạm biệt nắng, tạm biệt gió...

Em muốn hôn anh lần cuối, nắng à...

Thứ Bảy, 29 tháng 6, 2013

Lá thư tình của chàng trai


Đây là lá thư tình của một chàng trai. Bố của cô gái không tán thành mối quan hệ của 2 người và ra lệnh phong tỏa nghiêm ngặt. Buồn....tuyệt vọng.....Chàng trai quyết định gửi cho cô bạn gái lá thư chia tay này :

1.Tình yêu tuyệt vời anh dành cho em
2. Đã không còn nữa. Và anh thấy sự chán ngấy với em
3. Ngày một nhiều thêm. Khi chúng ta gặp nhau
4. Anh thậm chí chẳng quan tâm tới khuôn mặt em đâu.
5. Điều duy nhất anh muốn là
6. Ngắm nhìn những cô gái khác. Anh chưa bao giờ nghĩ sẽ
7. Kết hôn với em. Buổi trò chuyện cuối cùng của chúng ta
8. Thật tẻ nhạt và nó chẳng hề
9. Làm anh chờ đợi gặp em nhiều hơn nữa
10. Em chỉ biết nghĩ cho mình em thôi.
11. Nếu chúng ta kết hôn, anh cảm nhận được
12. Cuộc sống sẽ trở nên đầy bất ổn. Và anh sẽ không tìm thấy
13. Niềm đam mê khi ta chung sống. Anh có một trái tim
14. Nhưng chắc chắn không phải
15. Để dâng hiến cho em. Chỉ mình em trên thế gian này mới
16. Thât ích kỉ và ngốc nghếch, vậy nên em chẳng
17. Có khả năng ôm trọn trái tim anh
18. Anh thật sự muốn em hiểu rằng
19. Những điều anh nói là sự thật. Em sẽ giúp anh rất nhiều nếu em
20. Hiểu được tình yêu của chúng ta đã kết thúc. Đừng cố gắng
21. Trả lời anh. Lá thư này toàn những điều
22. Anh không hề mong muốn. Em đừng nghĩ viển vông
23. Về tình yêu thật sự với anh. Thôi chào em. Hãy tin lời anh nói.
24. Anh không thể quan tâm tới em nhiều hơn đâu. Và xin em đừng nghĩ rằng :
25. Anh vẫn sẽ mãi là người yêu em.

Thật là một bức thư quá tồi phải không? Tuy vậy, cuối thư chàng trai chỉ yêu cầu cô gái đọc những dòng thư lẻ. Bạn thử đọc lại một lần nữa xem, bảo đảm sẽ rất thú vị đấy! Và bạn cũng đoán được thái độ của người bạn gái kia chứ?

Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2013

Em chờ anh có lâu không?


Tôi không yêu nhưng lại nhớ. Không giận nhưng vẫn buồn. Không ghen, nhưng nhìn thấy bức ảnh cậu ấy ôm một cô bé thì thấy tim nhói lên một cảm giác khó tả.


***

Ước gì thời gian có thể quay trở lại. Tôi khoanh tay đặt phía trước lan can và gục cằm xuống đó. Người thả lỏng như một con mèo con đang mệt mỏi sau ngày dài chạy từ nóc nhà này sang nóc nhà kia. Những cơn gió của ngày giao mùa thổi mạnh làm tóc tung bay, rối mù mịt. Gió mùa đông thì chẳng bao giờ biết quan tâm, chỉ ào qua từng đợt như những gã choai choai thích trêu trọc con gái, hoặc thảng nhẹ lướt đến độ qua rồi ta mới biết. Chẳng buồn đưa tay vuốt lại, tôi nhìn về phía xa kia, ở đó có ngôi trường cấp ba mình đã học.

- Mày biết nó không?

- Ai cơ?

- Duy hotboy đó. Sau một đêm thi ca nhạc đã nổi lên như ngôi sao sáng trên bầu trời trường trung học Nam Trung, đã làm nhiều trái tim các cô nàng độ tuổi 16-18 thổn thức. Một khuôn mẫu mới ra đời, khác hẳn với những gì mà các hotboy đẹp trai nhưng đa tình lại còn pha chút đầu gấu, hơi xấu nhưng có duyên ở trường này đã tạo ra – Trà say sưa như một phóng viên đưa tin chuyên nghiệp.

- Không quan tâm lắm.

- Với cũng chẳng đến – Trà bĩu môi.

- Không quan tâm lắm vì nó với cũng chẳng được mình ấy chứ – Tôi phá lên cười trêu lại.

Cậu bạn có mái tóc đen lánh, đi đôi giày cánh thiên thần, mặc áo sơ mi trắng và cái dáng cao cao đang tiến lại gần. Vài đứa con gái đứng đó nắm tay nhau thật chặt để tránh phải hét lên như "fan nữ" nhìn thấy thần tượng Hàn Quốc tới ở sân bay. Chỉ có điều cậu ấy không khiến cả đám đổ xô vào chụp ảnh, cấu xé, xin sợi chỉ áo, mà chỉ lặng thầm đứng nhìn trong sung sướng. Trà – con bạn thân của tôi cũng để lại vẻ đanh đá hàng ngay, thay vào đó là bộ mặt hiền lành với nụ cười mỉm, đứng ngay ngắn giả vờ đưa tay vuốt tóc vẻ không quan tâm.

Chẳng một cái vẫy tay, chẳng kính đen che đôi mắt thâm quầng (sau chuyến bay dài thức trắng), cậu bạn lướt qua êm ru, nhìn thẳng về phía trước nơi có đám bạn đang đứng đá cầu. Bọn con gái vẫn không mảy may cáu kỉnh, chỉ dõi theo từng cử chỉ, bước đi của chàng. Tôi có cảm giác như cậu ta mà ngã ra đấy thì cả đám sẽ xô đẩy nhau chạy lại đỡ. Mà có khi không kịp đỡ vì còn mải giành giật nhau, chèn ép nhau để mình là người chạy được lên trước nhất. Rõ là buồn cười. Tôi biết thế và bụm miệng cười một cái. Lúc lắc mái tóc, tôi quay người lên lớp để lại đằng sau đám con gái vẫn trân trân đứng nhìn. Đối với tôi chẳng có ai là Hot boy ngoại trừ bố.

Vênh váo. Tự cao. Đấy là hai tính từ tôi dành cho Duy khi lần đầu tiên nhìn thấy. Quả bóng rổ trong tay dường như muốn nhảy ra ngoài. Mặc cho lũ bạn đang lờn vờn xung quanh chỉ trực cướp bóng và cái Yến đang hét lên "Chuyền sang đây", tôi quyết định nhấc bóng lên và ném vào kẻ đang đi ngang qua mình. Một kiểu làm quen ấn tượng mà sau này Duy nói chưa có ai dám làm thế với cậu.

Tôi vẫn nhớ góc sân bóng rổ. Đứng từ gác thượng của chung cư gia đình tôi ở nhìn rõ lắm. Bao nhiêu kỷ niệm ùa về, mắt chỉ trực trào nước ra nhưng gió lại ngay lập tức làm khô nhanh chóng. Cảnh Duy đi bóng, cười hớn hở, dí ngón trỏ vào đầu tôi chê lười biếng không chịu để ý kĩ và tập luyện, huých vào vai tôi đau điếng khi cậu ghi điểm với cú ném từ khá xa... Nhưng giờ tất cả đã khác. Duy không còn ở đây đã ba năm. Tôi cũng đã sắp trải qua hết thời sinh viên đủ màu sắc của mình. Chẳng có gì tiếc nuối nhưng cũng chẳng thể kết thân với bất cứ ai cho cái gọi là trên-tình-bạn-một-tí.

- Chào em.

- Vâng ạ – Tôi hờ hững.

- Anh là Hải, bạn của anh Bình, anh Bình có giới thiệu em với anh...

- Vâng!

- Em tên gì nhỉ?

- Vâng, em là Trúc.

- Trúc xinh trúc mọc đầu đình, em xinh em đứng một mình cũng xinh.

Chị phục vụ bê ra hai cốc capuchino. Cuộc nói chuyện trở nên nhạt nhẽo làm tôi chẳng muốn cười. Đỡ lấy cốc cà phê hờ hững và một nụ cười cảm ơn xã giao, tôi nhanh chóng tự chìm vào thế giới của riêng mình.

"Cạch", cốc cà phê bị người đối diện làm đổ lênh láng ra bàn. Màu nâu đặc quánh loang ra nhanh chóng xuống chiếc khăn trải ren màu trắng. Tôi ngẩn ngơ nhìn, cứ nhìn mãi theo vệt nâu ấy và nhớ lại. Cách đây của bốn năm cũng thế này...

- Đồ hâm! Có mỗi cốc cà phê mà bê cũng không xong thì Hot boy cái nỗi gì? – Tôi nguýt Duy.

- Bị trượt tay mà...

Thứ nước nâu của cà phê rơi rớt ra đầy tay, giày trắng và cả ở vạt áo. Cái mặt dài thuỗn ra của cậu trông đến tội làm tôi bật cười.

- Nào, lại đây, để bảo mẫu chăm cho nào...

Duy ngoan ngoãn lại gần. Đưa tờ giấy ăn ở giỏ trên bàn cho cậu lau tay, tôi rút ra trong túi giấy ướt vẫn hay mang theo để lau áo và cúi xuống lau giày. Chẳng bao giờ tôi có thể nghĩ một đứa con gái cao ngạo và khinh đời như mình lại có thể ngồi xổm lau giày cho một người con trai khác, ngoài bố. Duy ngượng nên cứ hét lên "Đứng dậy" và tránh người ra xa. Cả quán gần như ngoái nhìn, cứ như thể tôi đang tra tấn đứa trẻ con mặt búng ra sữa.

***

Ti vi đang chiếu lại "Thiên thần và ác quỷ" chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Dan Brown – một tác giả mà cả hai đứa đều thích. Cái salon màu gụ trống trơn, bỗng dưng dài ra như bất tận vì có mình tôi ngồi ở một đầu. Mẹ vẫn bận nấu món chè hạt sen ở trong bếp, nhất quyết không cho con gái rượu là tôi động vào, nên giờ này tôi ngồi thừ người ở đây tư lự.

Duy đã đi lại lung tung trong nhà này. Mỗi chỗ ngó một tí, nghé một tẹo, thỉnh thoảng lại nhìn mấy bức ảnh treo trên tường thả một câu: "Ơ hồi ý Trúc trán dô nhỉ?", "Sao không thấy Trúc giống ai trong nhà?", rồi chạy lại phía tôi hất tung cái mái bằng "Hỉ Nhi" lên đỉnh đầu và cười ha hả mặc cho sự chống trả quyết liệt của tôi. Những lúc ấy mẹ vẫn thường chép miệng: "Đã gặp suốt ở trường rồi mà về nhà vẫn còn nhí nháu với nhau"...

Diễn viên chính đóng vai Robert Langdon đang chạy loanh quanh để tìm manh mối về vị hồng y giáo chủ đầu tiên mất tích. "Hỏng hết cả truyện" – Duy vẫn lẩm bẩm như thế mỗi khi tới tình tiết hồi hộp của phim và hai đứa lại chí chóe với nhau về cảnh này hợp, cảnh này không, phim cắt bớt chi tiết nào, làm hỏng chi tiết gì trong nguyên mẫu...

- Lấy cốc đi Trúc ơi, mẹ nấu xong rồi đây.

Mẹ cất giọng gọi và tôi đứng dậy uể oải lấy cốc.

- Thằng Duy mà nó ở đây thì ăn lấy ăn để mất.

Ừ nhỉ, chè hạt sen là món khoái khẩu của Duy. Ăn tới quên trời đất, như thuồng luồng ba ba, mất hết cả vẻ đẹp trai của Hot boy. Những lúc như vậy tôi vẫn thường hét toáng lên trêu: "Thế này mà lũ con gái nhìn thấy có mà ngất", và Duy vẫn cười rồi thình lình khi không để ý, cậu giật chiếc cốc vẫn còn đầy chè chưa ăn xong trên tay tôi giơ cao trêu ngươi.

Chẳng biết sao chúng tôi thân nhau. Thân nhau tới độ một ngày giành giật nhau cái khăn giả hàng hiệu LV dưới sân trường, làm cả trường nháo nhác. Một Hot boy không đẹp trai lắm nhưng có duyên và đứng đắn, ăn mặc phong cách ngời ngời lại đang toe toét cười với cái đứa con gái nhỏ thó, mặt mày đăm đăm và chẳng có gì nổi bật hay thướt tha, kiều diễm.

Tôi cũng không biết vì sao chúng tôi thân nhau dễ thế. Cũng có thể là do lần cuối tôi dám ngáng chân cậu ấy trong căng tin rồi giương mắt lên bảo: "Đói quá, hoa mắt nhìn nhầm, chân lại bị khớp nên duỗi nhầm lúc" và cậu ấy buộc phải trả thù bằng cách cứ tan học là nắm tóc tôi kéo đi xềnh xệch suốt mấy ngày. Mấy đứa con gái là "fan cuồng" của Duy tưởng tôi bị trả thù nên hoan hỉ, đến cả cái Trà bạn thân cũng cười sung sướng. Bọn con trai thì lấy làm lạ vì ở trường này chưa có thông lệ con trai "xử đẹp" con gái bao giờ...

Kì lạ là chẳng đứa nào đi theo sau xem sự vụ ra sao, mà có theo được thì nửa đường cũng mất hút vì tôi chạy thoát hoặc Duy đuổi theo nhanh như gió. Vài bữa như thế, rồi mệt, rồi lại rủ nhau ngồi bệt xuống vệ cỏ nào đó, buôn dưa cho tới khi chán thì về.

Thế mà Duy lại đi. Học lớp 12 xong, tốt nghiệp trung học xong, tôi thi vào Đại học Công Đoàn xong thì cậu ấy cũng bay sang Thụy Sĩ bắt đầu chương trình học bổng của mình. Một người ham học và rất nỗ lực mà. Ngấm ngầm học tiếng Anh như điên, cày bảng điểm như trâu, tham gia tích cực các hoạt động của trường, của phường và ẵm cái Học bổng toàn phần ngon lành như ăn chè hạt sen.

Trà khóc thút thít như cái vòng tay giả bạc hay đeo ở cổ tay trái bị mất, còn tôi thì không. Tôi vẫn cười, vẫn đánh cậu ấy ở sân bay và nhận lại những cái huých đau điếng người. Nhưng tối về thì cay mắt. Những bản nhạc không lời của Yiruma không đủ để xoa dịu nỗi lòng và bao nhiêu tháng ngày sau đó, quen với biết bao chàng trai khác cũng chẳng có ai lấp được khoảng trống cậu ấy để lại. Một khoảng trống không rõ ràng, nhưng hễ thảnh thơi để tư lự nghĩ thì nó cứ rộng hoác và sâu hoắm dần.

Tôi không yêu nhưng nhớ. Không giận nhưng buồn. Không ghen, nhưng nhìn thấy bức ảnh trên facebook cậu ấy ôm ngang eo một cô bé người Việt học cùng trường, thì thấy tim nhói lên một cảm giác khó tả.

Duy vẫn chat yahoo, skype với tôi đều đặn hai tuần một lần; vẫn email khi gặp áp lực vì chuyện học tập. Ba năm học đại học, dù ở xa nhưng Duy vẫn xen vào cuộc sống của tôi như vẫn rất gần. Chỉ có điều, chẳng còn ai đi cùng tôi trên đoạn đường dài đầy cây xanh từ nhà tới sân bóng rổ mỗi chiều chủ nhật, chẳng còn ai mua kem rồi quệt lên mặt tôi mỗi sáng đi học thêm toán và cũng chẳng còn ai nhảy chồm chồm lên khi tôi thông báo một tin sốt dẻo lãng nhách của mình...

- Duy có bạn gái rồi hả?

- Thế lúc buồn Trúc vẫn hay lên gác thượng đứng hả?

- Duy chưa trả lời câu hỏi.

- Có cũng đúng, mà không có cũng chẳng sai.

- Trả lời thế à? Đồ hot boy kênh kiệu. Ghét!

Tôi vẫn quen kiểu trả lời thế. Kiểu trả lời nhấm nhẳng, không đúng trọng tâm làm người hỏi phát điên lên nhưng rồi lại phải xịu xuống vì mình chẳng là gì của người ta, cũng chẳng gặp được họ để bóp cổ hỏi cho ra lẽ.

***

"I wanted you to be there when I fall

I wanted you to see me through it all

I wanted you to be the one I love

I wanted you, I wanted you

I wanted you to hold me in my sleep

I wanted you to show me what I need

I wanted you to know just how down deep

I wanted you, I wanted you".

Là nhạc chuông điện thoại của tôi. Giọng Inna cất lên buồn thảm trên nền nhạc balad.

- Gì đấy? – Tôi nhấc máy khi thấy tên người gọi là Trà.

- Nó về. Duy nó về rồi! – Giọng Trà sang sảng cất lên trong không gian ở đầu dây bên kia yên ắng lạ kì.

- Ừ, biết. Thế nó... có dẫn... người yêu về cùng không?

- Thấy thằng Kiên bảo là có...

- Ừ...

- Mày đang ở đâu?

- Chỗ cũ thôi.

- Là chỗ nào? Mà sao giọng mày kiểu gì ý?

- Ừ... Đang ở chỗ bí mật... Thôi tí nữa tao gọi lại nhé...

Tôi nghe giọng mình trượt tận đâu xa lắm. Cố gắng không để những hàng nước vô cớ trào ra, tôi quệt bỏ và tắt điện thoại nhanh chóng. Gió thổi to hơn và cơn lạnh quay quắt khiến tôi giữ chặt hai vạt của chiếc áo khoác mỏng.

Duy đã về. Có dẫn theo bạn gái. Đó không phải là việc của tôi. Nhưng tối nay sẽ là quá sức mình nếu tôi xuất hiện, giả vờ ngoác miệng ra cười tươi từ bảy giờ tới mười giờ tối và không được phép xịu xuống, thừ người ra một giây nào cả. Nhưng nếu cáo ốm và ở nhà thì lại nhấp nhổm, tò mò về cô gái kia... Tôi quệt đi hàng nước mắt vừa rớt ra. Có cái gì đó nghèn nghẹn trong tim. Lúc lắc cái đầu để xua đi những suy nghĩ vớ vẩn ấy, tôi quay người lại và định bụng sẽ về phòng nằm một chút.

Mái tóc đen nhánh. Áo sơ mi trắng bên trong chiếc áo khoác da màu đen, giày trắng cánh thiên thần và một nụ cười. Tôi khựng lại. Một nụ cười hình trăng lưỡi liềm cong lên đẹp đẽ. Chưa bao giờ tôi thấy cái từ Hot Boy lại hợp đến thế dù mặt cậu ấy không hề đẹp mĩ miều như những diễn viên Hàn Quốc. Những giọt nước mắt vừa cố ngưng lại nhưng vẫn dâng đầy trong mắt, từ từ rớt ra, thi nhau rớt ra, đua nhau rớt ra không kìm ném nổi.

- Bạn gái đâu?

Tôi lấy hết sức hít nước mũi vào trong và quệt nước mắt, nói to. Giọng như muốn vỡ ra. Gió rít qua kẽ mấy tán cây làm tôi rùng mình vì lạnh. Tôi ghét mùa đông, vì phải mặc đủ ấm để khỏi ốm, vì phải một mình chống lại những cơn gió lạnh căm căm, những cái rét thấu xương thịt, mà chẳng có đến một bàn tay siết chặt tay mình.

Duy vẫn cười, đi lại dần phía tôi. Rồi đột ngột choàng tay ra ôm gọn tôi vào lòng:

- Bạn gái à, em chờ anh có lâu quá không?

Ân oán của người ăn mày

Năm 1965, lúc đó tôi 23 tuổi đang là sinh viên sư phạm để ra làmmột ông thầy dạy văn chương trung học . Sáng hôm đó làmột buổi sáng sớm mùa Xuân, tôi đang ngồi học trong phòng mình trong căn hộ ở tầng 6một tòa chung cư . Đây là tòa nhà chung cư duy nhất trong dãy phố .
Hơi lo ra, tôi ngồi học mà cứ thỉnh thoảng lơ đãng nhìn ra cửa sổ . Bên dưới nhà tôi là đường phố . Bên kia đường là căn nhà ngay góc đường của ông Sĩ-giang. Ông này khó tính nhưng nhà ông này có mảnh vườn tuyệt đẹp mà tôi cứ hay nhìn xuống . Kế bên nhà ông Sĩ-giang là căn nhà cũng rất đẹp của gia đình Bình-nam . Gia đình Bình-nam là gia đình hiền lành, thân thiện, luôn làm những chuyện tử tế . Gia đình này có 3 cô con gái, mà tôi thì si tình cô lớn nhất, là Diễm-an . Sáng sớm lắm nên tôi biết Diễm-an chưa có ra ngoài nhà nhưng mà thỉnh thoảng tôi cứ liếc sang đó . Có lẽ chỉ vì trái tim sai khiến .
Theo thói quen, ông Sĩ-giang sáng sớm là đã tưới nước và dọn dẹp cho căn vườn yêu quý của ông ta . Căn vườn này nằm ngay trước nhà, có hàng rào sắt phía trước, cách đường phố phía dưới là 3 bậc tam cấp bằng đá .
Đường xá đang còn vắng tanh . Tôi thấy cómột người đàn ông đang đi từ xa tới bên phía lề đường của nhà Sĩ Giang và Bình Nam . Tôi bị lôi cuốn vì ông ta có vẻ làmột người ăn xin hay là dân du cư, áo quần là những tấm giẻ cũ kỹ đủ màu như cầu vồng .
Ốm yếu, râu ria, trên đầu thì đội cái mũ rơm màu vàng . Dù trời nóng, ông ta cũng khoác cái áo choàng rách rưới, xam xám . Ông ta còn mang thêm cáimột bị lớn, dơ dáy . Chắc là để đựng đồ ăn xin được và thức ăn thừa .
Tôi tiếp tục nhìn theo tay ăn mày . Ông ta ngừng trước nhà ông Sĩ Giang, leo lên bậc tam cấp, rồi hỏi hay xin cái gì đó với ông Sĩ Giang qua khe hở của cái hàng rào sắt . Tính ông Sĩ Giang làmột người thô lỗ , khó chịu cho nên trông ông có vẻ không muốn nghe người ăn xin nói gì mà chỉ hất tay đuổi ông ta đi . Nhưng ông ta cứ đứng nguyên đó nói gì không rõ . Rồi tôi nghe ông Sĩ Giang to tiếng :
- Đi ! Đi ngay ! Đừng có làm phiền nữa !
Tuy nhiên, không hiểu sao ông ăn mày cứ đứng đó, tay vịn vào hàng rào, kèo nài, lẩm bẩm . Giận dữ và mất hết kiên nhẫn, ông Sĩ Giang dùng hết sức đẩy mạnh ông ăn mày ra khỏi hàng rào . Kẻ ăn mày tuột tay khỏi hàng rào , trật chân lên bậc tam cấp, ngã chỗng chân lên trời, đầu đập mạnh vào bậc đá xanh .
Ông Sĩ Giang hoảng hốt chạy ra, cuối người lên lão ăn mày, tay để lên tim ông ta lắng nghe nhịp đập . Chắc không nghe thấy gì nên ông Sĩ Giang sợ hãi chạy xuống chân ông ăn mày rồi nắm chân kéo ông ta sền sệt xuống lề đường . Bỏ ông ta nằm đấy nhưmột người say rượu . Sau đó ông Sĩ Giang đi vào nhà, đóng khóa cửa vườn, cửa nhà lại, như là không biết gì xảy ra . Ông ta chắc cũng nghĩ rằng chẳng ai thấy cái tội ác vô tình ông gây ra cả .
Người nhân chứng duy nhất là tôi .
Không lâu sau đó có người đi ngang qua và thấy người ăn mày nằm chết bên đường . Cảnh sát đến và xe cứu thương được gọi đến . Xác người ăn mày được cho vào xe cứu thương va ` chở đi mất .
Mọi việc diễn ra như vậy . Ngoài người ăn mày thì đã chết, ông Sĩ Giang thì sống để bụng chết mang theo, chẳng ai còn nhắc đến cái chuyện người ăn mày chết đường chết chợ đó nữa .
Còn tôi, tôi rất cẩn thận không bao giờ hé ramột lời về chuyện này cho bất cứ ai . Có lẽ như vậy là không chính trực lắm nhưng tôi sẽ được gì khi tố cáo ông Sĩ Giang, người dù sao chẳng có làm gì xấu với tôi cả ? Hơn nữa, cũng không phải ông Sĩ Giang cố tình muốn sát hại người ăn mày kia . Tất cả chỉ là chuyện vô tình , lầm lỡ . Tôi nghĩ để cho ông Sĩ Giang đã lớn tuổi phải gánh chịu những phiền phức, rắc rối với pháp luật, có thể còn phải đi tù về chuyện này thì thật có gì đó hơi bất nhẫn . Tốt hơn hết là để cho ông ta chịu sự phán xử của lương tâm ông ta .
Lâu dần tôi cũng quên đi cái bi kịch thương tâm đó . Nhưng mỗi khi gặp ông Sĩ Giang tôi lại thấy xao xuyến bàng hoàng chút gì đó trong người vì nghĩ rằng ông ta không thể ngờ tôi là người duy nhất đã chứng kiến toàn bộ cái bí mật có lẽ ghê gớm nhất của cuộc đời ông . Sau đó tôi tránh mặt ông và không bao giờ còn dám nói chuyện với ông nữa .
***
Banăm sau, tôi đã 26 tuổi, tôi đã lấy bằng sư phạm về ngành ngôn ngữ và văn chương Tây ban nha . Diễm-an không lấy tôi làm chồng mà lấy 1 kẻ may mắn khác . Tôi cũng chẳng biết kẻ ấy yêu Diễm-an hơn tôi hay là xứng đáng với nàng hơn tôi hay không .
Thời gian đó, Diễm-an đang mang thai, sắp đến ngày sinh nở . Nàng vẫn sống trong căn nhà tuyệt đẹp đó và chính nàng vẫn đẹp hơn bao giờ hết .
Mộtbuổi sáng tháng 12 tôi đang dạy kèm văn phạm ở nhà cho vài em học sinh trung học , cũng trong căn phòng ngày xưa chứng kiến vụ án mạng . Cũng như ngày nào, thỉnh thoảng tôi lại liếc nhìn xuống con đường phía trước dưới nhà .
Bỗng nhiên tim tôi nhảy lên loạn xạ . Tôi tưởng như mình bị ảo ảnh .
Trên con đường trước mặt, cómột người đang đi về phía nhà gia đình Diễm-an, chính là người ăn màyba năm trước bị ông Sĩ-giang giết chết . Không thể lẫn lộn vào đâu được . Bộ quần áo màu mè giẻ rách, chiếc áo choàng xám, cái mũ màu vàng, cái bị túi dơ bẩn .
Quên cả đám học sinh, tôi vội đi tới bên cửa sổ . Người ăn mày đang đi chậm lại , như là đang sắp đến nơi ông ta muốn đến .
“Ông ta trở về.” Tôi nghĩ “Và trở về để báo thù ông Sĩ-giang đây .”
Nhưng ông ta không ngừng lại trước nhà ông Sĩ-giang . Ông đi băng qua hàng rào vườn nhà ông Sĩ-giang . Ông ta đứng trước cửa nhà của Diễm-an, mở chốt cửa rồi đi vào nhà .
Tôi điên lên vì lo lắng . Tôi bảo đám học trò :
“Tôi sẽ trở lại ngay !”
Tôi chạy ra thang máy và đi ngay ra phố, băng qua đường, chạy vội tới nhà của Diễm-an ,
Mẹ cô ta, đang đứng trong nhà, ngay cửa chính . Bà nhìn tôi ngạc nhiên rồi nói :”Ủa ? Chào cháu ! Cháu đó ư ? Thật làmột phép lạ !”
Mẹ Diễm-an luôn luôn có cảm tình với tôi . Bà ôm hôn tôi . Nhưng tôi chưa hiểu gì cả . Tại sao bà lại nói phép lạ gì ở đây ? Té ra là Diễm-an vừa mới lâm bồn . Và bà tưởng tôi đến thăm đúng lúc . Ai trong nhà cũng vui mừng . Tôi bèn đành bắt tay chúc mừng kẻ đã đánh bại tôi .
Tôi chưa biết phải hỏi thế nào và đang suy nghĩ không biết có nên giữ im lặng cho qua luôn không . Rồi sau đó tôi nghĩ ramột cách . Tôi bèn vờ hỏimột cách hơi lơ đãng :
“Thật ra thì tôi bước vào nhà mà không bấm chuông vì tôi thấymột ông ăn mày vớimột cái bị to mà dơ dáy lắm lẻn vào nhà này . Tôi sợ ông ta ăn cắp đồ trong nhà .”
Mọi người trong nhà nhìn tôi ngạc nhiên : ăn mày ? bị túi ? ăn trộm ? Hầu như cả nhà đang ở trong phòng khách này từ nãy giờ nên chẳng ai hiểu tôi nói gì .
Tôi bèn nói :
- Vậy chắc chắn là tôi nhìn lộn rồi .
Sau đó họ mời tôi vào phòng của Diễm-an và em bé mới sanh . Trong hoàn cảnh này tôi chẳng biết nói gì hơn là chúc mừng nàng, hôn tay nàng, suýt soa nhìn em bé, và hỏi vợ chồng nàng đã đặt tên cho em bé chưa . Họ nói rồi, và tên bé là Duy-thành .
Trở về nhà, tôi ngẫm nghĩ :
“Đó chính là người ăn mày bị giết bởi ông Sĩ-giang . Chắc chắn . Vậy ông ta không trở về để báo oán mà chỉ để đầu thai vào làm con của Diễm-an .”
Tuy nhiên, 2 – 3 ngày sau, tôi thấy giả thuyết của tôi có vẻ kỳ quặc quá cho nên tôi cũng từ từ quên nó đi mất .
***
Có lẽ tôi cũng quên đi những chuyện không vui, hơi quái dị đó luôn nếu sau này vào năm 1979 không cómột chuyện xảy ra làm tôi nhớ và liên hệ lại tất cả mọi việc xảy ra từ năm 1965 đến lúc đó .
Nhiều năm đã trôi qua . Tôi cũng đã qua tuổi thanh niên . Không còn nhiều ước vọng hăng hái như ngày xưa . Mỗi khi đọc sách cạnh cửa sổ tôi thường để tâm trí lãng đãng đây đó, mắt vãn thỉnh thoảng nhìn ra cửa sổ, bên kia đường .
Con của Diễm-an, Duy-thành, bây giờ đã 11 tuổi, đang chơi trên sân thượng của nhà nó . Trò chơi hơi có vẻ trẻ con so với số tuổi của nó . Có lẽ thằng bé không thông minh lắm . Tôi nghĩ nếu nó là con của tôi thì chắc nó sẽ nghĩ ra nhiều cách để giải trí thú vị hơn .
Nó đang đặt 1 đống lon không trên đầu bức tường ngăn cách 2 căn nhà và đứng cách xa khoảng 3 hay 4 mét, lấy đá cố chọi cho trúng vào mấy cái lon . Làm vậy, dĩ nhiên là các cục đá sẽ rớt hết qua vườn nhà bên cạnh của ông Sĩ-giang . Bây giờ thì ông ta chưa thấy nhưng tôi biết lát nữa đây ông ta sẽ nổi trận lôi đình khi thấy cảmột khoảnh hoa trong vườn nhà ông ta bị đá rơi trúng làm bầm dập, gẫy nát .
Ngay lúc đó, tôi thấy ông Sĩ-giang mở cửa nhà và bưóc ra vườn . Lúc này ông già lắm rồi, bước từng bước chậm chạp, nghiêng nghiêng . Mỗi bước lại ngưng, mỗi buớc lại nhấc chân lên nặng nề . Nhưng ông ta không chú ý gì đến mảnh vườn mà lại đi thẳng tới cổng vườn, mở cổng rồi bước xuống bậc tam cấp bằng đá dẫn ra lề đường .
Trong lúc đó thì thằng bé Duy-thành, không nhìn thấy ông già, cuối cùng đã chọi trúngmột cái lon . Cái lon văng lên, rớt xuống bờ tường vài lần, rồi rớt xuống vườn nhà ông Sĩ-giang vớimột tiếng “beng” lớn , có lẽ do trúngmột bờ gạch hoạc chậu kiểng . Ông già đang đi chập choạng trên bậc tam cấp, nghe tiếng động bỗng giật mình quay lại . Ông bị mất thăng bằng rồi ngã quay trên bậc thềm, đầu giộng mạnh vào thềm đá xanh .
Tôi thấy hết . Nhưng ông già và thằng bé chẳng ai thấy ai cả . Chẳng hiểu tại sao, thằng bé bỗng ngưng chơi . Nó chạy đi mất . Chỉ vài giây sau, nguời ta bu lại chỗ ông Sĩ-giang té nằm đó . Trong chốc lát người ta xác định là ông đã chết vỡ sọ, do bị té bất ngờ .
Sáng hôm sau, khi thức dậy, tôi đi ngay ra cửa sổ nhìn qua bên kia đường . Xác ông Sĩ-giang được quàng giữa nhà . Nhiều người đứng hút thuốc và tụ tập trên lề đường trước nhà ông .
Mọi người bỗng im lặng, đứng tránh ra có vẻ bối rối khi cómột lão ăn mày từ nhà Diễm-an bước ra, vẫn với bộ quần áo màu mè, cai áo choàng xám, cái mũ rơm màu vàng, cái bị túi dơ bẫn kia . Lão đi ngang qua nhóm người, chậm chạp nhưng từ từ khuất dần theo hướng mà trước đây ông ta đã theo hướng đó mà đến .
Cũng hôm đó,một tin buồn đến nhưng không làm tôi ngạc nhiên, là thằng bé Duy-thành bỗng nhiên không ai thấy nó ở trong nhà nữa . Họ tìm kiếm mãi mà không bao giờ tìm ra dấu vết thằng bé . Tôi chỉ biết khuyên gia đình Diễm-an thường xuyên đặt hoa lên bậc thềm chỗchỗ người đã tử nạn .
Một thời gian sau Duy-thành bỗng trở về nhưng không còn nói dược . Sau này nó phải học lại từ đầu và tuy chậm nhưng vẫn phát triễn bình thường .
- Hết -
Truyện ngắn kinh dị của Fernando Sorrentino (Argentina)
Bản tiếng Anh của Thomas Meehan

Hồn ma dưới đáy biển sâu

Khi nào mà các đại dương vẫn còn những lợi gân nối liền các phần khác nhau của Đế quốc Anh thì chúng ta vẫn sẽ không tránh khỏi những chuyện hoang đường. Vì linh hồn người ta tự để cho bị khuấy động bởi nước, cũng giống hệt như nước phải vâng theo mặt trăng và khi những con đường lớn của một đế quốc bị bao quanh bởi nỗi hỉêm nguy muôn thuở, cũng phong phú về những cảnh trí và âm thanh kỳ lạ, người ta phải có một tinh thần khá thâm hậu để giữ được thản nhiên trước những điều ác hại của chúng. Hiện nay nước Anh đang vươn ra rất xa bên ngoài chính quốc, khi mà ba ngàn dặm hải phận của mỗi mạn duyên hải làm thành cương giới mà nó đã đoạt được bởi cái búa, cái khuôn dệt và cái cuốc nhọn hơn là bởi những nghệ thuật của chiến tranh. Quả thật lịch sử đã đoán chắc với chúng ta rằng không một ông vua nào, không một đạo quân nào có thể cản đường của một người chỉ có hai đồng tiền trong két sắt nhưng biết rằng ở nơi nào y sẽ có thể biến hai đồng tiền thành ba đồng, và để hết trí thông minh vào việc đi tới nơi đã định. Và vì cương giới đã mở xa ra, trí thông minh của Anh Quốc cũng được nới rộng và tràn lan ra một cách đầy đủ trên khắp thế giới để cho tất cả mọi người thấy rằng những con đường của hải đảo có tính cách châu lục, giống hệt như những con đường của châu lục đều có tính cách hải đảo.
Nhưng để tới được chỗ đó, người ta đã phải trả một cái giá, và cái giá này cứ tiếp tục tốn kém hơn. Cũng giống như con quái vật thời xưa phải nhận được dưới dạng cống phẩm hàng năm một người trai trẻ, với đế quốc của chúng ta cũng thế, hàng ngày chúng ta phải hy sinh cái tinh hoa của thế hệ thanh niên của chúng ta. Guồng máy thì bao la và dũng mãnh nhưng nhiên liệu duy nhất làm cho nó vận hành là sinh mạng của dân Anh. Đó là lý do tại sao khi ở trong những giáo đường cổ kính màu xám chúng ta nhìn thấy những danh tính xa lạ: những danh tính mà cả những người xây các bức tường này cũng không biết, vì chính ở Peshawar, ở Umbellah, ở Korti, ở Fort Pearson mà những chàng trai trẻ chết, mà chỉ để lại phía sau họ truyền thuyết và một tấm biển. Nếu bên trên mỗi cái xác người Anh có một đài kỷ niệm được dựng lwn thì người ta sẽ không cần vạch ra cương giới, vì một sợi dây thừng của những ngôi mộ sẽ chỉ rõ làn sóng của dân Anh và Celtes đã vờ tới nơi nào.
Cả điều đó nữa, đồng thời với những khối nước nối liền chúng ta với thế giới, đã đóng góp vào những chuyện hoang đường mà chúng ta thấm nhuần. Khi mà bao nhiêu người đàn ông và đàn bà đã có ở phía bên kia đại dương những người mà họ yêu quý và những người này đang tiến lên dưới làn đạn của dân sơn cước hoặc trong những đầm lầy của bệnh sốt rét rừng, thì lúc đó tâm hồn đi vào sự giao cảm với tâm hồn, và những truyện ly kỳ nẩy sinh, những mộng mị, những sự linh cảm, những ảo tưởng trong đó một bà mẹ trông thấy con trai bà đang chết và bà ngất đi trong cơn tuyệt vọng, ngay cả trước khi cái tang của anh ta được loan báo cho bà. Mới gần đây khoa học đã chiếu cố tới vấn đề này và đã ban cho nó một cái nhãn hiệu, nhưng chúng ta đã biêt gì hơn nếu không phải là việc một linh hồn bị hành hạ và tới bước cũng đã có thể phóng qua mặt đất, vào một khoảng cách mươi lăm ngàn cây số, cái hình ảnh của tình cảnh đau buồn của y tới tận tâm trí của người thân cận nhất của y? Tôi không hề phủ nhận cái quyền năng đó, nhưng tôi nghĩ rằng cần phải khôn ngoan trong những vấn đề như vậy, vì ít nhất đã có một lần tôi biết rằng những điều trong khuôn khổ các định luật tự nhiên có thể hoàn toàn nằm ngoài những vấn đề này.
John Vansittart là hội viên thứ nhì của công ty Hudson et Vansittal, công ty xuất khẩu cà phê ở Ceylan ( Tích Lan). Ông vốn là người gốc Hà Lan, nhưng 100% Ăng-Lê trong lòng các phong độ. Đã nhiều năm tôi làm đại diện cho ông ở Luân Đôn. Khi ông tới Anh quốc để nghỉ ngơi ba tháng, ông nói với tôi để có những sự giới thiệu cho phép ông làm quen với đời sống ở thị thành và ở thôn quê. Ông đã rời khỏi các văn phòng của tôi với bảy bức thư trong túi áo. Trong một vài tuân, những bức thư ngắn từ nhiều nơi khác nhau gửi tới báo tin cho tôi biết là ông đã lấy được cảm tình của các bạn tôi. Rồi tôi được tin là ông đã đính hôn vơi Emily Lawson, thuộc ngành thứ của gia đình nhà Hereford Lawson, và gần như ngay sau đó họ đã thành hôn: sự tán tỉnh của một du khách chỉ có thể chóng vánh thôi, và cái ngay ông phải xuống tàu của công ty, một cái tàu buồn một ngàn tấn: đó sẽ là chuyến đi chơi tuần trăng mật của họ.
Thời đó là thời cực kỳ thuận lợi cho các nhà trồng cà phê ở Ceylan, họ đã chưa từng biết cái mùa khủng khiếp mà chỉ trong vài tháng thôi, nhưng đã làm lụi bại tất cả một cộgn đồng này nhờ ở sự dũng cẩm và kiên trì, sẽ lại dành được một thắng lợi thứ hai: quả thực những cánh đồng trà ở Tích Lan là một đại công trình của lòng dũng cảm của dân Anh, giống hệt như con sư tử ở Waterloo. Nhưng trong năm 1872 chưa có một đám mây nào đe doạ ở chân trời. Những hy vọng của các nhà trồng tỉa thật tràn trề, Vansittart trở lại Luân Đôn cùng với cô vợ trẻ đẹp của ông. Ông giới thiệu cô với tôi, chúng tôi cùng ăn bữa tối với nhau, và cuối cùng thì ông đồng ý rằng, vì các công việc củng đòi hỏi sự có mặt của tôi ở Tích Lan, tôi sẽ là bạn đồng hành của họ trên tau Eastern Star, mà sự nhổ neo rời bến đã được định trước vào ngay thứ hai sắp tới.
Tôi gặp lại ông vào buổi tối ngày chủ nhật. Ông đi vào trong nhà tôi với một vẻ băn khoăng và bực bội. Khi tôi bắt tay ông, tôi nhận thấy bàn tay ông nóng và khô.
- Ông Atkinson ạ, ông nói với tôi, tôi muốn ông bảo người nhà pha cho tôi một chút nước chanh và nước lạnh. Nói theo nghĩa đen, tôi đang chết khát đây, và tôi càng uống bao nhiêu thì tôi càng muốn uống nữa.
Tôi bấm chuông và gọi lấy một bình nước và những cái cốc.
- Ông đang bị sốt nóng lạnh, toi nói với ông, ông có vẻ đang khó ở đó.
- Không, tôi không cảm thấy khoẻ mạnh lắm. Tôi bị đau phong thấp ở lưng, và tôi ăn không ngon. Chính cài thành phố Luân Đôn chết tiệt này làm tôi nghẹt thở. Tôi không quen hít thở cái không khí mà bốn triệu buồng phổi cùng khuấy trộn lên cùng một lúc.
Ông vung vẩy hai bàn tay co quắp trước mặt ông: thật sự ông đã cho người ta một ấn tượng của sự ngột ngạt.
- Một khi ông ở trên mặt biển, ông sẽ cảm thấy khoẻ khoắn ngay.
- Đúng. Về điều đó thì tôi đồng ý với ông, Đó là việc cần thiết của tôi. Tôi không cần tới một vị y sĩ khác. Nếu ngày mai tôi không xuống tàu thì tôi sẽ phát ốm…..
Ông uống một hơi hết cốc nước chanh và ông xoa chỗ sống lưng bằng hai bàn tay ông.
- Người ta nói rằng điều đó sẽ tốt cho tôi, ông nói tiếp trong khi nhìn tôi với một con mắt rầu rỉ. Bây giờ tôi cần có sự giúp đỡ của ông, ông Atkinson ạ, vì tôi đang ở trong một hoàn cảnh tế nhị.
- Hoàn cảnh thế nào?
- Đây này, bà mẹ vợ tôi bị ngã bệnh và bà ấy đã đánh điện gọi vợ tôi tới bên giường bệnh của bà ấy. Tôi đã không thể đi theo vợ tôi (ông biết rõ hơn ai hết là tôi đã bị cầm chân lại ở đây ) và vợ tôi đành phải đi một mình. Bây giờ tôi lại vừa nhận được một bức điện khác nói là ngày mai vợ tôi không thể tới được, nhưng nàng sẽ bắt kịp con tàu ở Falmouth vào ngày thứ tư. Ông biết đó, chúng tôi sẽ đạu lại ở đó: nhưng Atkinson ạ, tôi thấy thật là khó cho người ta đòi hỏi một người phải tin vào sự huyền bí, và người ta sẽ nguyền rủa, nếu y không thể tin vào điều đó, người ta sẽ nguyền rủa y, ông hãy hiểu tôi đi!
Ông cúi xuống phía trước và khịt mũi làm như thể ông sắp khóc oà lên.
Lúc đó tôi nghĩ tới việc người ta đã nói rất nhiều với tôi về những tập tục ở hải đảo và về cách thức người ta uống rượu không pha ở đó. Chắc hẳn rượu đã là nguyên nhân của những lời nói khó hiểu này và của những bàn tay đang lên cơn sốt này! Tôi cảm thấy một sự lo sợ mạnh mẽ khi trông thấy một người trai trẻ cao quý như vậy nằm trong tay một con quỉ ghê tởm nhất trong số tất cả những con gái.
- Ông phải đi nằm nghỉ! Tôi nói một cách nghiêm nghị.
Ông dụi mắt như thể ông tìm cách tự làm cho mình tỉnh lại, và ông nhìn tôi với vẻ kinh ngạc.
- Tôi sẽ đi tới đó, ông nói với tôi một cách bình thản, lúc nãy tôi cảm thấy hơi choáng váng, nhưng bây giờ tôi đã hồi phục rôi. Này, tôi đang nói về về việc gì thế? À, dĩ nhiên là về vợ tôi rồi! Nàng sẽ xuống tàu ở Falmouth. Tôi tin rằng sức khoẻ của tôi tuỳ thuộc vào sự đi đường biển. Tôi cần có chút ít không khí trong lành trong phổi tôi để tôi có thể hoàn toàn bình phục. Do đó tôi xin ông hãy làm cho một việc với tư cách bạn bè, ông sẽ đí tới Falmuoth bằng xe lửa, phòng trường hợp mà chúng tôi tới trẻ, và lúc đó ông sẽ trông nom cho vợ tôi. Ông hãy tới khách sạn Royal; tôi sẽ đánh điện cho nàng là ông trú chân ở đó. Em gái của nàng sẽ đi theo nàng tới tận đó, như thế là mọi việc sẽ tốt đẹp.
- Rất vui lòng, tôi trả lời. Thật sự tôi không đòi hỏi gì hơn là được đi tới Falmuoth bằng xe lửa, vì từ đây tới Colombo chúng ta sẽ có nhiều thời gian thưởng thức biển cả. Tôi cũng nghĩ rằng ông có một nhu vầu khẩn thiết về sự thay đổi không khí. Nếu ở địa vị ông tôi sẽ đi nằm nghỉ ngay tức thì.
- Phải. Đêm hôm nay tôi sẽ ngủ trên tàu. Ông thấy đó một thứ sương mù còn lởn vởn trước mắt ông.
- ….Mấy đêm nay tôi không ngủ được nhiều, tôi đã gặp mâu thuẫn với các nhà thần học….nghĩa là…..
Trong một sự cố gắng tuyệt vọng, ông kêu lên :
- ….Bởi những sự hoài nghi có tính cách thần học…Xì! Tôi tự hỏi tại sao đấng tối cao toàn năng lại tạo ra chúng ta, tại sao. Ngài lại làm cho chúng ta ngu độn và gài những sự đau đớn lặt vặt vào sống lưng của chúng ta. Có lẽ là tối nay tôi sẽ khá hơn!
Ông đứng dậy và bám thấy cái lưng ghế của ông.
- Ông Vansittart! Xin ông hãy nghe tôi! Tôi nói với sự nghiêm trọng. Tối nay tôi sẽ mời ông ở đây với tôi, ông không ở trong tình trạng để đi ra ngoài được. Ông không đi ngay ngắn được. Ông đã uống những thứ pha trộn của rượu…
- Rượu hả ?
Ông nhìn thằng vào mắt tôi với một cái nhìn ngớ ngẩn .
- Thường nhật thì ông chịu đựng khá hơn khi uống rượu mà.
- Ông Ankinson này, tôi thề với ông là đã từ hai ngày nay tôi không uống một cốc rượu, tôi không biết là tôi đã uống cái gì. Tôi giả thiết rằng ông nghĩ đó là hiệu ứng của rượu….
Ông nắm lấy bàn tay tôi và đặt nó lên trán ông.
- Lạy chúa tôi! Tôi kêu phải lên.
Ông có làn da mỏng như một dải nhung, dưới lớp da tôi cảm thấy như một lớp chi chít những miêng chỉ lụn vụn.
- Ông chớ lo sợ, ông nói trong lúc cười mỉm. Tôi đã mắc bệnh lở mụn nước rất tệ.
- Nhưng chuyện đó không dính líu gì tới bệnh lở mụn nước mà !
- Không, đó là Luân Đôn. Đó là việc thở hít cái không khí tệ hại đó. Ngày mai tôi sẽ mạnh khoẻ hơn nhiều. Trên tàu có một y sĩ, thế là tôi sẽ được săn sóc chu đáo. Bây giờ tôi sẽ đi đây.
- Không, tôi nói với ông trong khi bắt ông phải ngồi xuống. Việc đó sẽ là đưa sự đùa cợt đi quá xa đấy. Ông sẽ không nhúc nhích khỏi nơi này trước khi gặp một vị y sĩ. Hãy ở yên chỗ ông đang ngồi.
Tôi cầm lấy cái mũ và vội vã đi tới nhà một vị y sĩ ở ngay gần nhà tôi. Tôi đưa ông ấy về nhà tôi ngay lập tức, nhưng phòng khách của tôi trống không và Vansittart đã đi khỏi. Tôi bấm chuông, anh đầy tớ báo với tôi rằng vị quý khách đã sai gọi một cỗ xe. Ông ấy bảo người đánh xe đưa ông ấy đến bến tàu.
- Vị quý khách có vẻ ốm yếu không? Tôi hỏi.
- Ốm yếu à? Anh đầy tớ mỉm cười trả lời. Thưa ông không, ông ấy hát ầm ĩ!
Sự bào tin này đã không làm tôi yên tâm chút nào, nhưng tôi nghĩ rằng ông đi tới tàu Eastem Star, và có một y sĩ ở trên tàu, tôi không thể làm được gì nữa cho ông. Tuy nhiên, khi tôi nhớ tới sự khác nước của ông, nhớ tới hai bầnty nóng bỏng của ông, con mắt nặng chĩu của ông, những lời nói vô ý nghĩa của ông, và cuối cùng là cái trán lở lói bệnh cùi của ông, thì tôi đã mang theo lên giường nằm của tôi một ký ức khó chịu về người khách của tôi và sự tới thăm của ông ấy.
Sáng hôm sau, vào lúc mười một giờ, tôi đi tới bến tàu, nhưng tàu Eastern Star đã bắt đầu chạy xuôi dòng sông và đã fần tới Gravesend. Tôi đi với Gravesend bằng xe lửa, nhưng khi tôi tới nơi thì chỉ còn trông thấy các cột buồm của nó ở một khoảng cách khá xa, được mở đường phía trước bởi một lùm khói của một cái tàu kéo. Thế là tôi không có tin tức nào của ông bạn tôi nữa trước khi tới Falmuoth. Khi tôi trở về văn phòng của tôi, một bức điện tín đã đợi tôi. Bà Vansittart đã tới Falmuoth; buổi tối ngày hôm sau, chúng tôi gặp nhau ở khách sạn Royal, tại đó chúng tôi phải đợi tàu Eastern Star. Mười ngày đã trôi qua, chúng tôi không nhận được tin tức gì của con tàu.
Tôi sẽ không dễ dàng quên được mười ngày đó! Khi tàu Eastern Star rời khoti sông Tamise, một cơn bão lớn phát khởi; nó thổi trong gần cả một tuần lễ không ngừng nghĩ chút nào. Trên bờ biển miền nam, chưa bao giờ người ta thấy một trận bảo dài như thế và cuồng nộ như thế. Từ các cửa sổ khách sạn của chúng tôi, mặt biển hình như bị bao trùm trong sương mù. Gió đè một cách quá nặng nề lên những đợt sóng khiến cho mặt biển không thể vùng lên được: ngọn của từng đợt sóng đã bị ngắt đi ngay tức thì. Những đám mây, gió, mặt biển đều ùn ùn kéo về hướng tây. Ở giữa những thế lực hung hăng này, tôi chờ đợi hết ngày này qua ngày khác với sự bầu bạn duy nhất của một người đàn bà xanh xao và trầm lặng, mà cặp mắt phản ảnh sự kinh hoàng; từ sáng tới chiều, nàng cứ đứng dán mắt vào cửa kính, đăm đăm nhìn vào tấm xịt qua đó một con tàu có thể hiện ra. Nàng không nói gì cả, nhưng nét mặt nàng là một khúc bi ca dài dặc.
Sang tới ngày thứ năm tôi hỏi ý kiến một thủy thủ già. Ý tôi muốn được ngồi một mình với ông ấy, nhưng nàng đã trông thấy tôi mở lời với ông ấy, và nàng tới ngay tức thì, miệng hé mở và đôi mắt khẩn cầu.
- Khởi hành từ Luân Đôn đã bảy ngày rồi à? Ông ấy nói. Vậy là năm ngày trong giông bão. Này, biển Manche đã bị quét sạch bởi cơn gió này! Có ba giả thuyết, trận bão có thể bắt nó phải tìm nơi trú ẩn trong một hải cảng của Pháp. Điều này có thể là đúng.
- Không phải thế đâu! Ông ấy biết rằng chúng tôi đang ở đây. Lẽ ra ông ấy phải đánh điện cho chúng tôi.
- À phải! Vậy thì có thể là nó đã chạy ra khơiđể tránh bão, nếu đúng vậy thì lúc này chắc nó không ở xa Madere. Thưa bà, điều đó hoàn toàn có thể xảy ra; bà có thể tin lời tôi nói !
- Và giả thuyết thứ ba?
- Tôi có nói với bà về một giả thuyết thứ ba à? Không, tôi nghĩ chỉ có hai thôi. Tôi không tin là tôi đã nói tới một giả thuyết thứ ba. Con tàu của bà đang ở một nơi nào đó ở giữa Đại Tây Dương, và chả mấy chốc bà sẽ có tin tức của nó, vì thời tiết săp thay đổi. Thưa bà, bà chớ lo lắng. Hãy đợi tới ngày mai, ngay từ buổi sáng bà sẽ có một bầu trời xanh, đẹp.
Người thủy thủ già đã tiên đoán đúng: ngày hôm sau trời quang đãng ngoại trừ một đám mây thấp bay ở phía tây, và đó là mảnh cuối cùng của cơn cuồng nộ của trận bão tố. Dù trời đã quang đãng chúng tôi cũng vẫn không có một tin tức nào về chiếc tàu thủy. Ba ngày bực bội, lo âu nữa đã trôi qua, rồi một thủy thủ tới trình diện ở khách sạn với một bức thư, tôi thốt lên một tiếng kêu vui mừng. Bức thư tới từ vị thuyền trưởng của tàu Eastern Star. Khi đọc qua mấy dòng đầu tiên, tôi đã muốn giấu nhẹm là thư đi, nhưng nàng đã giật lấy nó từ tay tôi.
- Tôi đã đọc đoạn đầu, nàng nói với một giọng bình thản. Vậy thì tôi có thể đọc chỗ tiếp theo.
Lá thư viết như sau :
” Kính thư ông, ông Vansittart đang ở trên tàu với bệnh đậu mùa, và chúng tôi đã bị đẩy ra quá xa mũi đất của chúng ta nên chúng tôi không biết phải làm sao: ông ấy đã phát cuồng và ông ấy không còn khả năng để ra lệnh cho chúng tôi. Theo những sự tính toán phỏng chừng của tôi thì chúng tôi chỉ còn cách Fanchal chừng bốn trăm hai mươi cây số thôi. Tôi cũng giả thiết là nên đi tới đó, đưa ông Vansittart vào bệnh viện, và đợi ông tới ở trong vịnh. Người ta nói với tôi là trong vài ngày nữa một tàu buồm sẽ từ Falmuoth đi tới Fanchal. Lá thư này sẽ được mang tới ông bằng sự môi giới của thuyền nhỏ Marian ở Falmuoth, phải trả viên thuyền trưởng của nó năm bảng. Kính chào ông. Jno Hines. ”
Nàng thật là tuyệt diệu, cô thiếu nữ vừa mới rời khỏi đại học này! Cũng trầm tĩnh và cương nghị như một bậc nam nhi vậy. Nàng không nói gì cả. Nàng mím chặt môi và đội mũ lên đầu.
- Cô đi ra ngoài à? Tôi hỏi.
- Vâng.
- Tôi có thể giúp gì cho cô không?
- Không, tôi đến nhà vị y sĩ.
- Sao?
- Phải. Để biết cách người ta điều trị bệnh đậu mùa.
Nàng loay hoay bận rộn súôt cả buổi tối. Sáng ngày hôm sau, chúng tôi xuống tàu đi Madere, trên chiếc tàu Róe ò Shảon. Gió biển thổi mười nút một giờ. Trong năm ngày chúng tôi chạy với tốc độ đều đặn, và chúng tôi đã tới nơi không xa hải đảo. Sang ngày thứ sáu gió nổi lên đột ngột, chúng tôi lâm vào tình trạng không nhúc nhích được như đi trên dầu nhớt.
Lúc mười giờ tối, Emily Vansittart và tôi cùng đứng tựa vào bao lớn bên phải của mạn cuối tàu; mặt trăng sáng rực đằng sau chúng tôi và chiếu xuống chân chúng tôi bóng đen của con tàu và bóng hai cái đầu của chúng tôi trên mặt nước lóng lánh như tấm gương. Từ chỗ bóng tối một con đường của ánh trăng trải dài ta và vừa đi xa, vừa tan rộng cho mãi tới chân trời hiu quạnh. Chúng tôi nói chuyện trong khi cúi thấp đầu xuống, chúng tôi nói dông dài về sự yên tĩnh, về cơ may của một cơn gió thuận lợi, về trạng thái của bầu trời, thì bỗng nhiên có một tiếng bõm trên mặt nước, như thể một con cá hồi vừa nhảy lên, và kìa, dưới ánh sáng trăng vằng vặc John Vansittart nhô lên từ dưới mặt biển và ngẩng đầu lên về phía chúng tôi.
Tôi chưa bao giờ thấy một vật gì rõ rệt hơn thế. Ánh trăng soi sáng ông ấy rõ mồn một, ông ấy ở cách xa chúng tôi tầm độ ba tầm chèo. Ông ấy có bộ mặt phồng lên lớn hơn là lần gặp mặt cuối cùng của chúng tôi, da ông có nhiều chỗ lốm đốm những vẫy đen; mặt và miệng ông mở lớn ra như thể một người vủa gặp một sự kinh ngạc lớn lao. Từ hai vai của ông, một chất trắng đục chảy xuống thành những dãi dài; một bàn tay của ông giơ lên gần tai, bàn tay kia thì gặp lại để ngang ngực ông. Tôi trông thấy ông vọt lên khỏi mặt nước, và trên mặt phẳng yên tĩnh của đại dương, những gợn sóng vẽ thành các vòng tròn cho mãi tới hông tàu. Rồi ông lại chìm xuống, và tôi nghe thấy một tiếng rập gẫy, một tiếng xé rách, như thể trong một đêm băng giá một bó củi khô nổ lép bép trong đống lửa bập bùng. Khi tôi nhìn lại tôi không còn trông thấy một chút dấu vết nào của ông đã xuất hiện. Tôi không thể nói là tôi đã đứng ở đó bao lâu cúi khom người trên các đầu ngón chân, một tay vịn chặt lấy cái lan can và tay kia đỡ lấy người đàn bà bất tỉnh. Tôi đã là một kẻ trái ngược hẳn với người hay nhạy cảm, lần này thì ít nhất tôi đạp chân lên boong tàu để biết chắc tôi vẫn còn làm chủ được các cảm giác của chính tôi, và đây không phải là sự sáng tạo điên khùng của một bộ óc hỗn loạn. Emily Vansittart run lẩy bẩy, mở mắt ra, nàng đứng dậy, hai tay tì vào cái lan can, nhìn ra mặt biển long lanh dưới ánh trăng; mặt nàng đã già đi mười năm trong một đêm hè.
- Ông có nhìn thấy ông ấy không? Nàng thì thào nói.
- Tôi đã nhìn thấy một vật gì.
- Đó là ông ấy! Đó là John! Ông ấy đã chết!….
Tôi ấp úng nói một vài lời có tính cách hoài nghi.
- …Chắc chắn là ông ấy vừa mới chết, nàng nói nhỏ. Ở bệnh viện Madère. Tôi đã đọc qua những truyện vào loại đó. Các yd nghĩ của ông ấy đều nghĩ tới tôi. Thị quan của ông ấy đã tới với tôi. Ôi John, người yêu quý của tôi, người yêu quý đã mất đi mãi mãi của tôi !
Nàng oà lên khóc nức nở: tôi đưa nàng về phòng của nàng và để nàng ở đó với nỗi lo buồn của nàng. Một cơn gió nhỏ bắt đầu thổi trong lúc ban đêm, và buổi tối hôm sau chúng tôi bỏ neo trong vịnh Fanchal. Tàu Eastern Star đang đậu gần đó, lá cờ kiểm dịch được treo cao trên cột buồm lớn và cờ hiệu của nó để rũ xuống.
- Ông trông kìa! Bà Vansittart nói với tôi.
Cặp mắt nàng khô ráo, nàng biết rằng không một giọt lệ nào trả lại được người chồng cho nàng. Trong lúc ban đêm chúng tôi nhận được giấy phép cho lên tàu Eastern Star. Viên thuyền trưởng, ông Hines, đợi chúng tôi trên boong, sẹ lo buồn và bối rối đã hằn lên trên bộ mặt da đồng của ông, và ông tìm những từ để loan báo hung tin: nàng ngắt lời ông.
- Tôi biết rằng chồng tôi đã chết, nàng nói, ông ấy đã chết tối hôm qua, vào lúc mười giờ, ở bệnh viện Madère, có phải vậy không?
Người thủy thủ nhìn nàng, sững sờ.
- Khồn, thưa bà. Ông ấy chết tám ngày rồi, ở trên biển và chúng tôi đã buột lòng phải thủy táng ông ấy ở đó, vì chúng tôi thấy mình đang ở một khu vực yên tĩnh và chúng tôi đã không biết khi nào thì chúng tôi sẽ tới bờ.
Đó là những sự kiện chính yếu liên quan tới cái chết của John Vansittart, cũng như về sự xuất hiện của ông ấy tại một nơi nào đó vào khoảng độ 35 bắc vĩ – tuyến và độ 15 tây kính tuyến. Một hồn mà hiện hình rõ rệt hơn thật ít khi xảy ra, do đó nó đã là đề tài của nhiều cuộc tranh luận, của nhiều bài viết. Nó đã được xác nhận bởi giới bác học và nó đã làm dầy thêm tập hồ sơ mới được mở ra gần đây về sự thần giao cách cảm. Về phần tôi, tôi chủ trương là sự thần giao cách cảm không có gì để nghi ngờ, nhưng tôi muốn rút trường hợp này ra khỏi tập hồ sơ và tôi muốn nói rằng chúng tôi đã không trông thấy sự xuất hiện của hồn ma John Vansittart, mà đúng là John Vansittart bằng xương bằng thịt, vọt lên từ đáy sâu của Đại Tây Dương dưới ánh trăng. Tôi luôn luôn tin rằng một sự ngẫu nhiên phi thường (Một trong các sự ngẫu nhiên rất ít có khả năng xảy ra này, tuy nhiên lại vẫn thường xảy ra ) đã làm cho chúng tôi đứng bất động bên trên chính ngay cái chỗ mà người đàn ông đó đã bị chôn vùi trên biển một tuần lễ trước. Về phần còn lại, vị y sĩ đã nói với tôi là quả tạ bằng chì không được cột chặt, và bảy ngày đã mang tới cho cái xác chết vài sự thay đổi nào đó có thể làm cho nó nổi lên mặt nước. Quả tạ đã làm nó chìm sâu xuống đấy biển. Nếu quả tạ tách rời ra xác chết có thể lại chồi lên mặt nước với sự đột ngột mà chúng tôi đã chứng kiến. Đó là lời giải thích của vị y sĩ. Tới chỗ muốn biết rõ ràng hơn nữa, tôi coi đó là phận sự của tôi, và nếu nhắc lại với bạn về cái tiếng động khô khan của sự rập gẫy, của sự xé rách, cũng như sự xao động trong nước biển. Những con cá mập kiếm ăn trên mặt nước, và chúng đông lúc nhúc trong miền này.
Kim Lương dịch

Sự khủng khiếp giữa trời cao

Tất cả những ai đã biết vụ án này đều không chịu tin rằng câu chuyện kỳ lạ mà người ta gọi là ”Một mảnh của Joyce – Amstrong ” là một sự huyền hó thêu dệt bởi một kẻ lạ mặt do sự gợi hứng của một tâm tính sa đọa. Một anh chàng hề cô hồn nhất và lém lỉnh nhất chắc cũng phải nhìn vào sự vật này hai lão lần trước khi dồn cả cái đầu óc tưởng tượng đầy bệnh hoạn của anh vào những việc không thể chối cãi được một cách bi đát đã dựng nên câu chuyện này, mặc dù câu chuyện này đầy rẫy những lời xác quyết rùng rợn và có khi quái đản nữa, nó vẫn không thiếu tính chất đáng tin và nó khiến chúng ta phải xét lại một quan niệm mà ngày nay đã có vẻ lỗi thời. Chỉ có một lằn ranh an toàn mỏng manh để che chở cho con người chống lại một sự nguy hiểm bất ngờ. Trước khi thuật lại câu chuyện nguyên thủy trong cái hình thức không toàn vẹn một cách khốn khổ của nó, tôi xin trình lên các dộc giả cả mọi sự việc mà người ta được biết vào ngày hôm đó. Trước hết tôi xin nói với các bạn có tính đa nghi đã ngờ vực câu chuyện của Joyce – Armstrong rằng các sự việc có dình líu tới đại uý Myrthe trong Hải quân Hoàng gia và ông Hay Connor đã được phối kiểm: Đúng là họ đã chết như người thuật truyện đã mô tả.
” Một mảnh của Joyce – Armstrong ” đã được tìm thấy tại một cánh đồng được gọi tên là Haycock Ha, ở khoảng một cây số rưỡi về phía Tây làng Withyham trên ranh quận Kent và quận Sussex. Ngày 15 tháng chín vừa qua, một anh nông dân là Jamé Flynn, làm công cho trại chủ Mathew Dodd, thuộc Nông Trại Chauntry ở Withyham, trông thấy một cái vố làm bằng rể cây Bruyen ở cạnh con đường chạy dọc theo hàng rào của Haycock Hạ. Cách xa hơn một vài thước nữa, anh ta tìm thấy cặp mắt kính đeo mắt bị bể. Sau rốt, trong những cây gai ở cái hố anh ta phát hiện ra một quyển sách mỏng gáy vải: Đó là một quyển sổ tay, một vài tờ bị long ra và bay tung toé chỗ chân hàng rào. Anh ta nhặt nhanh tất cả: Ba tờ giấy trong đó có hai tờ đầu, đã không thể nào kiếm thấy được. Anh nông dân mang chiến lợi phẩm này về cho ông chủ của anh, rồi ông này đưa cho bác sĩ Atherton ở Hartfield xem. Vị quý nhân này tháy ngay rằng cần có một sự giám định chuyên môn. Vậy là bản thảo được đưa tới câu lạc bộ Hàng không ở London, nơi mà nó vẫn còn tới bây giờ.
Hai trang dầu của bản thảo bị mất. Một trang khác cũng bị rơi mất ở đoạn kết thúc câu chuyện, nhưng sự mạnh lạc của toàn thể không hề hấn gì. Người ta cho rằng đoạn khởi đầu phác hoạ lại giấu tưởng lục của ông Joyce – Armstrong, bằng tưởng lục mà người ta có thể tạo lại một cách dễ dàng và nó vẫn là thứ độc nhất vô nhị trong nghành hàng không Anh quốc. Trong nhiều năm trời Joyce – Armstrong vẫn được coi như một trong những nhân viên phi hành táo bạo nhất và uyên bác nhất. Sự kết hợp các tài năng này đã cho phép ông phát minh và thí nghiệm nhiều phương pháp mà tên tuổi ông vẫn còn được gắn liền. Tất cả bản thảo của ông được viết bằng mực một cách đằng tả, trừ những dòng cuối cùng viết nguệch ngoạc bằng bút chì, gần như không thể đọc được, người ta đoán rằng chúng được viết một cách rất vội vã trên ghế một phi cơ đang bay. Ta cần nói thêm rằng có những vết bẩn làm lem luốc trang cuối cùng và tờ bìa, các giàm định chuyên môn của Bộ Nội vụ tuyên bố rằng đó là những vết máu, có thể là máu người, nhưng chắc chắn là máu của động vật có vú. Sự kiện là việc phân tích chất máu này đã phát hiện một vật gì rất giống con vi khuẩn bệnh sốt rét rừng ( Joyce – Armstrong thường bị những cơn sốt rét ) là một thí dụ đáng kể về những vũ khí mới mà khoa học hiện đại đã đặt vào tay các thám tử của chúng ta.
Bây giờ hãy nói qua tới nhân cách của tác giả một tài liệu sẽ mở ra một kỷ nguyên mới. Nếu ta tin được qua lời một vài người bạn đã biết nhiều về ông, thì Joyce – Armstrong là một người hay mơ mộng và là một thi sĩ, cũng như là một nhà phát minh và một kỹ thuật gia của ngành cơ giới. Ông đã tiêu phầ lớn tài sản đáng kể để thoả mãn sở thích vẻ hàng không trong các xưởng của ông ở gần Devizes. Ông có bốn phi cơ tiêng. Và trong năm ngoái, ông đã bay không dưới 170 lần. Tính nết của ông thường ảm đảm. Trong những dịp này ông tự cách ly và tránh mặt mọi sự tiếp xúc với xã hội. Đại uý Dangerfield, một người bạn đường thân nhất của ông công nhận rằng trong một vài trường hợp tính cổ quái của ông gần đi tới chỗ điên khùng, ông chẳng thường có thói quen mang theo lên ohi cơ một khẩu súng săn đó ư ?
Hơn nữa vụ tai nạn xảy ra với Trung Úy Murtle đã khiến ông xúc động một cách hai hại. Trong khi định phá kỷ lục về độ cao, Myrtle đã bị rơi từ một độ cao chừng mười ngàn mét, một sự việc khủng khiếp! Cái đầu ông ta hoàn toàn biến mất, tuy nhiên chân tay và tất cả phần còn lại của thân thể ông vẫn còn giữ được hình thể nguyên thuỷ, mỗi khi các phi công họp mặt với nhau, Joyce – Armstrong lại hỏi với một nụ cười bid hiểm: ” Các bjan đã tìm thấy cái đầu của Myrtle chưa? ”
Một buổi tối sau bữa ăn tại câu lạc bộ của trường huấn luyện phi công tại Salisbury, ôn đã gây ra một cuộc tranh luận về đề luận sau đây: Trong các sự hiểm nguy đối với các phi hành gia thì cái nào là lớn nhất và thường xảy ra nhất? Sau khi đã nghe các ý kiến được phát biểu về các lỗ hỗng trong không khí, các khiếm khuyết trong việc chế tạo, các trận bảo tố, ông nhún vai từ chối không đưa ra ý kiến riêng của ông. Nhưng ông cho thấy rằng nó hoàn toàn khác với những gì mà ông vừa được nghe.
Thiết tưởng không phải là vô ích để nói rằng một ngày sau khi ông mất tích người ta phát giác ra rằng ông đã thu xếp các công việc của ông đâu vào đó với một sự tỉ mỉ cho phép ta tin rằng ông đã linh cảm được sự cáo chung đang chờ đợi ông.
Nhưng sự chỉ dẫn tiên khởi này rất cần thiết. Bây giờ tôi xin chuyển dịc một cách thật đúng câu chuyện như nó đã được ghi bắt đầu từ trang ba của quyển sổ tay bị dính máu.
”….Tuy nhiên, khi tôi ăn bữa tối ở Reions với Cosetli và Gustave Roymond, tôi phải nhận thấy rằng không có người nào ý thức được sự hiện hữu của một mối nguy hiểm đặc biệt trên những tầng cao của khí quyển, tôi không nói rõ hết với họ những điều tôi suy nghĩ trong đầu óc tôi, nhưng tôi dùng cách nói bóng gió và nếu họ có những ý nghĩ tường đồng với ý nghĩ của thôi thì hẳn họ đã phát biểu chúng ra. Hỡi ôi, hai anh chàng kiêu căng ngu xuẩn này không nghĩ tới điều gì khác hơn là thấy tiên họ được in trên báo. Tôi đã chú tâm ghi nhận rằng cả hai anh chàng đó không người nào đã bay lên cao quá bảy ngàn, bảy ngàn năm trăm mét, chắc chắn là phải ở trên độ cao đó thì phi cơ mới đi vào vùng nguy hiểm ( luôn luôn giả thiết rằng những giả thuyết của tôi là đúng ) ?
Đã hơn hai mươi năm trời con người bay trên phi cơ? Nếu có ai hỏi tôi rằng tại sao mãi cho tơi ngày nay hiểm họa này mới tự phát hiện, câu trả lời sẽ thật đơn giản. Vào thời những động cơ khiêm nhường khi người ta ước tính rằng động cơ 100 mã lực Gnome hay Green là đủ để đáp ứng tất cả mọi nhu cầu, các phi cơ đã không thể vượt quá những gứoi hạn nào đó. Bây giờ, các động cơ 300 mã lực đã là quy luật chớ không phải là ngoài lệ nữa và những chuyến bay trên những tầng cao của khì quyển đã trở nên dễ dàng hơn, thông thường hơn, một vài người trong bạn chúng ta nhờ lại rằng, khi chúng ta còn trẻ trung Garros đã lừng danh khắp thế giới khi đjat tới độ cao sáu ngàn mét và việc bay bên trên núi Alpes được coi là một thành tích hết sức ghê gớm. Từ đó mức trung bình của chúng ta đã cãi tiến một cách đáng kể và đã có hai mươi chuyến bay lên tới độ cao mà xưa kia chỉ có một chuyến. Thật thế,phần lớn các chuyến bay đã được thực hiện với sự an toàn tuyệt hảo và những độc cao mười ngàn mét đã được đạt tới nhiều lần mà không gặp những trở ngại nào khác ngoài cái lạnh và sự nghẹt thở. Nhưng sự kiện này đã chứng tỏ điều gì? Một người khách lạ sẽ có thể xuống hành tinh chúng ta hàng ngàn lần mà không bao giờ nhìn thấy một con cọp. Tuy nhiên, những con cọp vẫn hiện hữu và nếu vì rủi ro vị khách của chúng ta hạ chân xuống trong rừng già, ông có thể bị nhai ngấu nghiến. Ở trên thượng tầng không khí cũng có những rừng già, nơi cư ngụ của những loài còn khủng khiếp hơn là cọp. Tôi tin rằng sẽ có lúc những rừng già này sẽ được thông bào một cách chính xác trên những bản đồ. Cho tới bây giờ có thể định vị được hai khu rừng già đó, một khu ở bên trên vùng Pau-Biarritz nước Pháp. Một vùng khác ở bên trên đầu tôi trong khi tôi đang viết tại phòng tôi trên chiếc Wiltshire. Tôi tin một cách đầy đủ là có một khu rừng thứ ba ở vùng Wiesbaden.
Chính một vài vụ án mất tích của các phi hành gia đã tạo cho tôi ý nghĩ về các khu rừng già này, chắc chắn là người ta thường nói rằng họ bị rớt xuống biển, nhưng sự giải thích này không làm tôi thỏa mãn chút nào. Trước hết đã có Verrier ở Pháp, phi cơ của ông đã được tìm thấy ở gần Bayonne, nhưng không bao giờ người ta phát hiện ra xác ông. Cũng còn có trường hợp của Baxten người đã mất tích, mặc dù động cơ của ông và một vài mảnh sắt vụn đã được nhận dạng trong một cánh rừng ở Laicesternhire. Bác sĩ Middleton ở Ameabury, người đã theo dõi chuyến bay với kính đeo mắt, đã khai rằng ngay trước khi những đám mây làm tối mù mục trường của ông, ông nhìn thấy phi cơ ở một độ cao khá lớn bỗng nhiên lồng lên theo chiều thẳng trong một loạt rung lắc với một sức mạnh cuồng bạo không thể tưởng tượng được. Đó là hình ảnh cuối cùng được ghi nhận về phi cơ của Baxtẻ. Sau đó còn nhiều trường hợp tương tự khác, rồi tới cái chết của Hay Connor. Đã có bao nhiêu lời nói dông dài vô ích về sự bí ẩn không được làm sáng tỏ này. Đã có bao nhiêu cột trong các báo cáo nhưng người ta đã cố tránh không đi sâu vào các sự việc. Ông ta đã xuống bằng lối bay là là từ độ cao không ai biết rỏ. Ông ta đã không thoát khỏi phi cơ, ông ta đã chết trên ghế ngồi. Ông ta chết vì cái gì mới được chứ? ” Đau tim ” các y sĩ trả lời như vậy. Vô lý! Tim của Connor cũng mạnh khoẻ như tim của tôi. Venables đã khai báo thế nào? Venables là người duy nhất ở cạnh ông ta khi ông ta chết. Ông xác nhận rằng Hay Connor bị lắc lư vì những cơn run rẩy và ông ta có vẻ kinh hoàng ” Chết vì sợ hãi ”. Venables nói vậy mà không thể tưởng tượng nổi cái gì đã làm ông ấy sợ hãi. Connor chỉ nói thì thào với Venables có một tiếng. Một tiếng giống như ”quái dị ”trong cuộc điều tra không ai có thể hiểu rõ cái chữ ”quái dị ”này chỉ định vào cái gì. Tôi,tôi có thể sẽ hiểu được nó chỉ định vào cái gì! Những con quái vật! Đó là tiếng nói cuối cùng của Harry Hay Connor xấu số! Và thực tình ông đã chết vì sợ hãi. Venables nói đúng.
Rồi thì lại cái đầu của Myrtle. Bạn có thực sự tin rằng ( Có người nào đó thực sự tin ) một cái đầu người ta lại có thể hoàn toàn thụt vào sâu cái mình sau khi bị rơi từ trên cao xuống không? Tôi, dù thế nào đi nữa, không bao giờ tôi tin vào lời giải thích cho vụ Myrtle. Va vết mỡ trên quần áo ông ấy ” Quần áo dính dầu mỡ ”, một người nào đó đã khai trong cuỗ điều tra, thật lạ lùng khôngcó ai chịu suy nghĩ về chuyện này! Tôi thì tôi đã suy nghĩ quả thực tôi đã suy nghĩ từ lâu rồi. Tôi đã làm thử ba lần ( Và Dagerfield trêu chọc tôi vì tôi đã mang theo súng săn!) nhưng tôi không lên đủ độ cao. Bây giờ, với chiếc Paul Wroner mới, nhẹ và động cơ Rubur 175 mã lực của nó. Ngày mai tôi sẽ phải đạt một cách dễ dàng tới độ cao 10.000 mét. Tôi sẽ làm thử kỷ lục. Có thể là tôi cũng sẽ làm thử với tử thần!…Tôi không phủ phận nguy hiểm, nhưng nếu một người muốn tránh hiểm nguy thì ông ta chỉ có việc thôi đừng bay nữa và sống suốt đời với lối đi giày vải và mặc đồ ngủ thôi- Ngày mai tôi sẽ thám hiểm khu rừng già trên không gian. Nếu có chuyện gì trong đó thì tôi sẽ biết. Nếu tôi trở về được tôi sẽ trở thành một nhân vực lừng danh, một ngôi sao sáng. Nếu tôi không trờ về được, cuốn sổ tay này sẽ chứng nhận những gì tôi định làm và tôi đã chết như thế nào, trong khi thử làm việc đó. Nhưng cầu ơn trên ban phước lành, không có chuyện lẩm cẩm về một ” tai nạn ” hay một sự ” bí ẩn ”.
Tôi đã chọn chiếc phi cơ một tầng cánh Paul Veroner để dùng trong công việc nhỏ mọn này. Chỉ cần chiếc phi cơ một tầng cánh này như thế khi người ta thực sự muốn thành công trong một việc gì. Ông Beaumont đã nhận ra việc này ngay từ lúc đầu. Chẳng hạn sự ẩm ươt không ảnh hưởng gì tới nó, mà thời gian hiện tại cho ta thấy trước rằng ta sẽ luôn luôn bay trong những đám mây. Đây là một loại phi cơ nhỏ, xinh xắn dễ điều khiển như một con ngựa non dưới tay tôi. Động cơ của nó là máy Rubur mười si lanh sức mạnh 175 mã lực. Phi cơ được trang bị những dụng cụ tấn tiến nhất của kỷ thuật; thân máy bọc thép, các bánh xe để hạ canh có vòng cong cao bộ thắng mạnh, những bộ phận ổn định hồi chuyển, ba tốc độ các bình diện theo nguyên tắc những tấm sáo có lá sách di động. Tôi có mang theo một khẩu súng săn và hơn một chục viên đạn chì lớn chắc các bạn đã thấy cái đầu của Perkins, anh thợ máy già của tôi, khi tôi nhờ anh ấy để súng đạn vào trong phi cơ. Tôi mặc quần áo theo kiểu nhà thám hiểm Bắc Cực, với hai áo len dài tay có cổ cao bên trong bộ đồ bay của tôi, những đôi tất dầy bên trong đôi ủng lót lông, một mũ kết có vành và cặp mắt kính bằng mi ca. Ra bên ngoài, gần những xưởng phi cơ, tôi bị nghẹt thở nhưng tôi muốn bay lên vượt khỏi độ cao của đỉnh Hy Mã Lạp Sơn, nhất định là tôi phải mặc y phục thích hợp, Perkins có vẻ nghi ngại một điều gì và anh năn nỉ tôi cho anh ta theo. Nếu tôi sử dụng phi cơ hai tầng cánh, có thể tôi đã phải ưng thuận lời yêu cầu của anh, nhưng với phi cơ một tầng cánh mà ta muốn có tốc độ tối đa để vọt lên cao thì chỉ là công việc của một người thôi. Dĩ nhiên là tôi mang theo một bong bóng dướng khí, một phi hành gia muốn thử lập một kỷ lục bay cao mà không mang theo dướng khí thì sẽ chết cóng hay chết ngộp hoặc bị cả hai sự tệ hại chồng chất lên.
Trước khi vào chỗ ngồi tôi đã kiểm soát các hành trình. Khi đã hài lòng với sự kiểm tra của tôi, tôi mở máy và cho chạy một cách êm đềm, tôi cất cánh ở số một, tôi bày hai vòng quanh bãi đâu để làm cho động cơ nóng lên đôi chút. Sau khi vẫy tay tôi chào tạm biệt Perkins và những người khác. Tôi vọt đi và xả hết sức máy. Phi cơ trườn đi trong gió như một con nhạn trong khoảng độ mười lăm cây số. Tôi hướng mũi nó lên cao và bắt đầu leo lên, vạch thành một vòng tròn xoáy trên ốc lơn hướng vào những đám mây dầy đặc. Điều tối quan trọng là phải lên cao một cách thong thả để thích ứng với áp lực của không khí.
Thời tiết nặng nề và oi nóng đối với một ngày tháng 9 nước Anh. Trời có vẻ muốn mưa. Từng cơn gió một từ phía tây nam thổi tới; một trong những cơn gió này đã ậo tới lúc tôi không đề phòng và đã đẫy tôi bay trệch đường một cách phủ phàng. Tôi nhớ lại lúc mà những cơn gió và những lỗ hỗng không khí đã trở thành những nguy hiểm nghiêm trọng vì các động cơ của chúng ta không đủ sức mạnh. Ngay lúc tôi bay tới các tầng mây thì trời bắt đầu mưa; đồng hồ đo độ cao của tôi chỉ một ngàn mét. Trời ơi! Trận mưa lớn lắm sao! Mưa đập lốp bốp vào cánh phi cơ, tát vào mặt tôi gần như roi quất làm mờ kính mắt của tôi, tôi gần như không còn thấy gì nữa, mưa làm cản trở tốc độ trung bình của tôi, nhưng biết làm thế nào? Trong lúc tôi vọt lên cao, nó trở thành mưa đá và tôi phải tìm cách đi vòng qua nó, một trong các si lanh của tôi không hoạt động được nữa; chắc chắn là một bu gi đã bị đóng cặn, tuy nhiên tôi vẫn có thể tiếp tục leo lên không mật một chúc sức mạnh nào. Chỉ ít lâu sau đó, sự bực bội về máy móc của tôi đã chấm dứt và tôi lại nghe thấy tiếng nổ đều đặn, ròn rã của mười si lanh cùng háy lên trong một tiếng hài hoà tuyệt diệu. Đây là công việc của phép lạ của máy hãm thanh hiện đại của chúng ta, rút cục ta đã có thể kiểm soát được các động cơ của chúng ta bằng tai. Khi chúng không quay một cách đều đặn, làm như chúng thét lwn, chúng cự nự chúng thổn thức! Thời xưa tất cả những tiếng kêu cứu đó đều mất đi, bị chìm ngập vào tiếng ồn ào dữ dội của động cơ. À, giá mà những bạc tiên phong của ngành hàng không có thể sống lại để nhìn thấy sự hoàng hảo về cơ giới là thứ đã được mua bằng giá mạng sống của họ.
Khoảng chín giờ rưỡi tôi tới sát gần những đấm mây. Bên dưới chân tôi chỗ nào cũng mịt mù trong mưa. Cánh đồng Salíbủy chạy dài bao la: năm sáu chiếc phi cơ chậm dãi bay ở độ cao ba hay bốn trăm mét, người ta có thể nói đó là những con chim sẽ. Tôi có cảm tưởng rằng họ đã tự hỏi tôi đang làm gì trong những đám may. Đột nhiên một tấm màn xám được chắng ra bên dưới tôi buồn bã, nhưng tôi đã thắng được trận mưa đá và thế là đã thắng nhiều rôi, mây cũng u ám và dày đặc như sương mù ở London. Vì mong muốn ra khỏi mây mà tôi kéo cần tốc độ chô tới khi chuông báo nguy tự reo lên. Tôi bắt đầu thấy giật lùi, những cánh đồng ướt sũng làm cho tôi nặng thêm hơn là tôi đã nghĩ, nhưng rồi tôi cũng tới được một vùng mây đỡ dày đặc hơn, rồi tôi lên được một lớp mây thứ hai màu trắng đục, lổng phổng như bông đang chờ tôi ở độ cao bên trên đầu tôi, nó làm thành một cái sàn màu đen nhẵn thín được trãi dài ra, giữa hai cái trần và sàn chiếc phi cơ một tầng hai cánh của tôi đang bay tới giữa trời. Trong khoảng cách không gian bao là này, người ta cảm thấy một đàn thủy điểu bay thẳng hàng về hướng Tây, tôi thú thực rằng sự hiện diện của chúng làm tôi vui thích, tôi nghĩ rằng đó là những con mồng két, nhưng tôi là một nhà động vật học hạng tồi. Bây giờ con người đã hóa thành những con chim, ta phải học để nhận ra những người anh em của chúng ta ngay khi vừa nhìn thấy.
Bên dưới chân tôi, gió khuấy động cái cánh đồng mây rộng lớn. Vào một lúc nào đó, nó gây ra mọt sự xáo trộn dữ dội, khơi ra một cái hố sâu và qua lỗ hổng cái ống khói của nó. Tôi nhìn thấy mặt đất, một chiếc phi cơ lớn màu trắng đang bay rất thấp, chắc chắn đó là chuyến bay thường xuyên buổi sáng Bristol – London. Rồi cơn lốc lại bắc đầu xoay sang hướng khác và tôi lại cảm thấy sự cô quạnh của tôi. Sau lúc mười giờ ít lau, tôi tiếp cận với cái vành phía dưới của tầng mây bên trên, những lớp mây này là hơi nước nhẹ, trong lờ mờ đang thông thả trôi về hướng đông. Sức gió tăng lên một cách đều đặn, nhiệt độ đã rất lạnh, mặc dù cao độ kế của tôi mới chỉ có ba ngàn mét. Động cơ quẫy đều đặn một cách đáng khen, mây đã dày đặc nhiều hơn là điều tôi ước tính, nhưng cuối cùng cũng mỏng manh đi thành một đám sương màu vàng và tôi được tiếp đón bởi một bầu trời hoàn toàn trong trẻo và một vầng mặt trời rực rỡ. Bên trên đầu tôi, chỉ toàn là màu xanh và vàng, ở phía dưới toàn là bạc lóng lánh. Đã mười giờ mười lăm phút, cây kim của khí áp biểu chỉ bốn ngàn hai trăm mét, tôi tiếp tục cuộc lên cao, hai tai lắng nghe tiếng nổ đều đều của động cơ, hai mắt luôn luôn nhìn vào đồng hồ, kim chỉ vòng quay, mức độ ét xăng, bộ phận bơm nhót không có gì đáng ngạc nhiên khi các phi hành gia được coi là những người không sợ hãi điều gì họ phải nghĩ tới quá nhiều việc khiến họ không có thì giờ để nghĩ tới chính mình chính vào lúc đó mà tôi nhận thấy rằng một cái địa bàn ít đáng tin vậy khi người ta vượt qua một độ cao nào đó bên trên mặt đất, may măn thay, mặt trời và gío đã cho tôi những toạ độ chính xác.
Tôi hy vọng tìm thấy một sự yên tĩnh vĩnh hằng trong khi cứ bay trên cao mãi, nhưng càng lên cao thì bão tố càng tăng thêm một cách cuồng bạo. Chiếc phi cơ một tầng cánh của tôi rên rỉ, run lên tới tận mọi con ốc của nó, chao đảo như một tờ giấy khi tôi muốn chuyển hướng. Nó lướt nhanh hơn trong gió, có lẽ không có một con người nào đã từng bay nhanh như vậy. Tôi phải luôn luôn giữ phi cơ cho thẳng và bay vát ngọn gió, vì tôi không chỉ có tham vọng riêng về kỷ lục độ cao: theo cách tính toán của tôi khu rừng già trên không trung toạ lạc ngay bên trên khu tiểu Wiltshire nếu tôi chinh phục các tầng cao của khí quyển ở những nơi khác, tôi sẽ mất hết kết quả cố gắng của tôi.
Vào khoảng giữa trưa tôi đạt tới sáu ngàn mét. Gió quá bạo cuồng khiến tôi phải lo lắng nhìn vào những sợi dây ở cánh phi cơ của tôi. Lúc nào tôi cũng tưởng là sẽ thấy chúng giãn ra hay đứt hẳn. Tôi đã tháo cái dù ở đằng sau và móc nó vào cái khoen ở đây lưng tôi ngõ hầu đề phòng điều tồi tệ nhất! Chính vào những lúc như thế này mà một việc làm vội vã, cẩu thả của một anh thợ máy có thể làm mất mạng một phi công! Nhưng phi cơ đã chống chỏi một cách dũng cảm, những dây và những bộ phận chống đỡ của nó kêu o o và run lên như là những sợi dản vậy. Tuy nhiên, tôi cũng kinh ngạc là bất chấp những sự va đập và lay động của gió đánh vào nó làm thế nào mà nó vẫn theo đuổi được sứ mạng chinh phục bầu trời của nó. Phải có một cái gì thàn thánh trong con người để anh ta lên tới cao như thề này bên trên những giới hạn mà hình như tạo hoá đã ấn định cho con người. Và để cho con người lên cao nhờ vào sự kế tục vô tư lợi, dũng cảm này mà sự chinh phục không gian đã chứng tỏ, người ta nói tơi sự sa đoạ của con người! Đến khi nào một câu chuyện tương tự thế này mới được viết vào sách biên niên của nòi giống chúng ta?
Với những ý nghĩ đó trong đầu tôi cứ luôn luôn thúc đẩy phi cơ của tôi lên cao hơn nữa, những cơn gió lúc thì quất vào mặt lúc thì rít lên sau tai tôi. Giải bình nguyên những đám mây phía dưới tôi đã lùi xa, những chỗ nhấp nhô, phập phồng màu bạc của nó đã rộn lên lộn vào một mặt bằng phẳng sáng rực rỡ, chắc chắn là tôi đã là nạn nhân của một sự thăng trầm chưa bao giờ có, chắc chắn là tôi đã biết người ta bị nguy hiểm thế nào khi ở trong tình trạng mà các ông bạn láng giềng ở phía bên kia biển Manche gọi là một cơn lốc, nhưng tới một mức độ như thế nào thì tôi chưa từng thấy bao giờ. Cái luồng gió khủng khiếp này có thể quét sạch tất cả. Mà hình như ngay trong lòng nó còn có những sự xao động cũng khủng khiếp như chính nó nữa. Không có một điềm báo trước nào, tôi bị cuốn một cách tàn bạo vào một trong hai sức mạnh đó trong một hay hai phút tôi đã quay tròn với một tốc độ làm tôi suýt nữa ngất đi. Rồi tôi bị rơi vào xuống, cạnh bên trái xuống trước, cái lỗ hỗng của ống khói chính khoảng chân không mà tôi rơi xuống mà không bị thứ gì cản trở cả, như một hòn đá, trong gần 300 mét, tôi còn ngồi được trên ghế là chỉ nhờ vào cái dây lưng của tôi thôi. Sự rung chuyển làm tôi nghẹt thở và xỉu đi nửa tỉnh, nửa mê trên thành của thân phi cơ, nhưng ( và đây chính là đức tính của một phi hành gia trong tôi ) bao giờ cũng đủ triển khai những nỗ lực siêu phàm. Tôi nhận thấy rằng tốc độ rơi xuống của tôi là một ống khói viên hình trụ. Và tôi tiến gần tới đỉnh cao của hình chóp này, phải chịu đựng một sức xoắn vặn ghê gớm. Bằng cách dồn tất cả trọng lực của tôi vào một bên, tôi lấy thăng bằng lại cho dôi cánh và giành lại sự điều khiển phi cơ để bay ra khỏi chỗ xáo trộn. Bị te tua nhưng đắc thắng, tôi lại kéo cần lái và lại bắc đầu leo lên cao. Lúc một giờ chiều, tôi đã ở bảy ngàn mét bên trên mức mặt biển, tôi hết sức mãn nguyện là tôi đã tới chỗ bên trên cơn bão tố, tôi càng lên cao thì không gian càng yên tĩnh. Ngược lại, trời rất lạnh và tôi bắt đầu thấy cảm, thấy nôn mửa đặc biệt thường đi kèm với sự loãng không khí của tôi và trong những khoảng cách đều đặn. Tôi hít chất hơi thần diệu này, tôi cảm thây khoan khoái gần như say sưa. Tôi kêu lên, tôi ca hát trong khi vạch ra những quỹ đạo của tôi trong bầu trời băng giá.
Tôi tin chắc rằng sự thất bại mà Glaisher và ở một mức độ thấp hơn, Coxwell đã là nạn nhân khi vào năm 1892 họ dùng kinh khí cầu lên tới độ cao mười ngàn mét bị gây ra bởi sự mau lẹ quá sức mà sự vọt thẳng lên cao bằng khinh khí cầu đã thực hiện. Khi ta lên cao theo một giác độ vừa phải và ta tậo làm quen dần với sự suy giảm của áp suất không khí thì ra sữ tránh được loại khó khăn đó. Về phần tôi ở một dộ cao tương đương, tôi nhận thấy rằng ngay dù không có bình dưỡng khí tôi cũng vẫn có thể thở mà không có sự khó khăn quá quắt. Tuy nhiên csi lạnh trở nên dữ dội, nhiệt kế của tôi chỉ mười tám độ âm. Lúc một giờ rưỡi chiều tôi ở khoảng gần mười một ngàn mét bên trên địa cầu và tôi cứ tiếp tục leo lên một cách đều đặn. Tuy nhiên không khí lỏng loãng nâng đỡ cặp cánh của tôi không được như trước và giao độ cao của tôi bị sút giảm một cách đáng kể. Tôi biết rằng ngay với một phi cơ nhẹ như thế này và một động cơ cực mạnh tôi cũng sẽ sắp sửa đạt tới tột đỉnh của tôi. Lại có sự rủi ro: một bugi dở chứng, động cơ của tôi bắt đầu trục trặc.
Trong lúc tôi đang lo sợ một sự thất bại thì một việc hoàn toàn kỳ dị diễn ra. Một vật bay vược qua tôi, tiếng kêu ù ù và nhả khói ra ở phía sau rồi nổi lên trong một tiếng rít lơn ở giữa một đám may hơi nước. Tôi bị sững sờ trong một lúc. Rồi tôi nhớ lại rằng trái bất đã bị bắn phá một cách liên tục bởi những vân thạch này không hoá thành hơi nước khi chúng chạm tới những tầng cao của khí quyển. Đây là một hiểm hoạ mới cho những tay tài tử của không gian, vì có hai vân thạch khác bay gần tôi khi tôi tới độ cao mười hai ngàn mét. Ở chỗ ranh giới vỏ bọc trái đất, hiểm hoạ chắc phải rất lớn và rất thực tại.
Kim áp kế của tôi chỉ mười hai ngàn ba trăm mét khi tôi biết rằng sẽ không thể bay lên cao hơn nữa. Về thế lực tôi sẽ có thể chịu đựng được một cố gắng nữa, nhưng phi cơ của tôi đã đạt tới giới hạn của nó rồi. Không khí lỏng loãng không còn nâng đỡ một cách đầy đủ cặp cánh của tôi: Khi hơi nghiêng đi một chút phi cơ đã chúc cánh xuống và không chịu theo sự điều khiển nữa. Có lẽ nếu động cơ không lộn xộn thì tôi đã lên thêm được ba bốn trăm mét nữa. Nhưng những tiếng nổ sì hơi mỗi lúc một nhiều thêm và tôi thấy hình như trong mười si lanh thì hai cái đã bị liệt. Nếu tôi chưa ở khu vực mà tôi tìm kiếm thì nhất định lúc này tôi không thể nào bay lên tới nơi được! Nhưng tôi đã chẳng lọt vào khu vực đó rồi sao? Vạch ra những vòng tròn và bay lượn như một mình và với cặp ống nhòm tôi quan sát một cách cẩn thận vùng chung quanh. Bầu trời quang đãng một cách tuyệt mỹ. Không có gì để cho ta dự đoán sự hiện hữu của những hiểm nguy mà tôi e ngại.
Tôi đã nói rằng tôi bay lượng trong khi vạch ra những vòng tròn. Tôi nghĩ rằng tôi đã đạt kết quả mỹ mãn hơn nhiều khi thăm dò một vùng rộng lớn hơn, một người thợ săn vào một trong những rừng già trên trái đất mà lại không đi xuyên từ đầu này tới đầu nọ của khu rừng đó với hy vọng phát hiện ra con mồi hay sao? Mà theo sự suy đóan của tôi, khu rừng già trong không gian mà tôi nhắm tới chắc chẳng phải toạ lạc nơi nào đó bên trên trái đất Wiltshire, nghĩa là phía Tây Nam của tôi. Tôi thực hiện một sự chồm lên theo sau mặt trời, vì địa bàn đã hỏng và tôi không còn phân biệt được trái đất nữa. Tôi lao về hướng đã chọn. Bay thật thẳng, vì tôi đã tính rằng chỉ còn đủ ít xăng cho một giờ nữa thôi. Nhưng tôi muốn chơi ngông là chạy cho tới cạn giọt xăng cuối cùng. Vì một lối bay lượng là là tuyệt diệu sẽ đưa tôi trở lại mặt đất không khó khăn gì.
Bỗng nhiên tôi cảm thấy một cái gì mới lạ. Trước mặt tôi, không khí đã mất sự trong sáng của pha lê, nó chứa đựng những hình thù dài xoắn xoeo của một chất gì mà tôi chỉ có thể so sánh với luồng khói rất mỏng của thuốc lá, những tràng những vòng của chúng lăn đi một cách chậm chạp trong ánh sáng mặt trời. Khi chiếc phi cơ một tầng cánh xuyên qua cái chết lạ hoắc đó. Tôi thấy trên môi có một vị mơ hồ của dầu nhớt và cái sả của phi cơ phủ đầy một thứ bọt của chất mỡ. Một chất mỡ hữu cơ vô cùng vi tế hình như đang lơ lững trong khí quyển. Có phải đó là đời sống không? Cái chất mỏng manh, thô sơ này kéo dài ra hàng nhiều mẫu tây rồi bươm tua vào khoảng hư không, đó không phải là thuộc về đời sống! Nhưng có thể là những dấu vết của đời sống, món ăn của một đời sống cổ quái? Chất mỡ đơn sơ của đại dương chính là món ăn của con cá voi dũng mãnh. Tôi còn đang nghĩ ngợi việc đó thì khi nhìn lên tôi rất thích thú thấy một điều hoàn toàn độc đáo. Liệu tôi có hy vọng thuật lại với các bạn đúng như nó đã xuất hiện trước tôi hôm thứ ba trước không?
Các bạn hãy tưởng tượng một con sứa như ta từng thấy tại các biển vùng nhiệt đới, có hình thù cái chuông nhưng tầm vóc cực lớn! Theo tôi thấy thì lớn hơn vòm nhà thờ Saint Paul, nó có màu hồng đạm với những vân xanh nhạt, nó có một khí chất rất vì tế khiến nó có vẻ chỉ như một hình thù huyền ảo trên nền trời màu xanh rủ xuống lòng thòng, lúng liếng một cách chậm chạp từ phía sau và từ phía sau ra phía trước, làm trọn vẹn hình thể của nó. Cái ảo ảnh huy hoàng này diễn ra trên đầu tôi với một vẻ uy nghi thầm lặng nhẹ nhàng và mong manh như một cái bọt xà bông. Nó tiếp tục một cách đường bệ con đường của nó.
Tôi đổi hướng phi cơ để nhìn nó rõ hơn, nhưng bổng chốc tôi phát hiện ra rằng tôi đang bị bám quanh bởi toàn những sinh vật như vậy, với những tầm vóc một trái banh cỡ trung bình. Cách cấu tạo sinh đẹp và màu sắc của chúng làm tôi nhớ tới hàng thủy tinh của Venise. Màu hồng và màu xanh lá cây nhạt là những màu chủ yếu, nhưng chúng trở thành lóng lánh đủ màu khi mặt trời nở rộ với những hình thù mảnh mai của chúng. Hàng trăm con đã lướt qua gần tôi như vậy. Hình thù và thể chất của chúng đã hoà hợp một cách quá hoàn hảo với sự tinh khiết của những độ cao này khiến ta không thể nào hình dung được một thứ gì đẹp đẽ hơn.
Nhưng rồi sự chú tâm của tôi lạii bị thu hút bởi một hiện tượng khác: những con rắn của ngoại tầng không gian, các bạn hãy tưởng tượng ra những cái ống dài, mỏng manh, kỳ ảo bằng một chất gì nom giống như hơi nước. Chúng quay lộn vặn vẹo mình với một tốc độ không thể ngờ được, mắt ta khó có thể thưo kịp sự biến hoá của chúng, một vài con trong những con vật ma quái này có thể dài tới tám hay mười mét, nhưng thật là bực bội khi muốn ước lượng đường kính của chúng như sương mù và hình như tan loãng trong không khí. Những con rắn không gian này có một màu xám rất sáng ở phía trong có rạch những đường sậm hơn khiến ta có cảm tưởng rằng chúng là những sinh vật thực tại. Một con trong bọn chúng vờn qua mặt tôi. Tôi cảm thấy chạm phải một vật gì lạnh và ẩm ướt, chúng không có vẻ gì là vật thể cả, khiên tôi tuyệt nhiên không nghĩ tới một nguy hiểm nào về thể chất có thể xảy ra khi quan sát chúng gần như vậy. Hình thù của chúng cũng thiếu sự vững chắc như đám bọt của một ngọn sóng khi tan vỡ.
Một kinh nghiệm khủng khiếp hơn được dành cho tôi. Từ trên một độ rất cao lao xuống, một vệt hơi nước màu tía lúc đầu tôi tưởng là nhỏ, nhưng nó lớn lwn rất mau khi tớigần tôi. Mặc dù được cấu tạo bởi một thứ chất liệu trong vắt nom giống như băng, nó vẫn có một hình thù rất rõ rệt và một sự đông đặc chắc hơn những thứ mà tôi đã nhìn thấy cho tới lúc này, tôi cũng nhận ra những dấu vết rõ hơn một thứ sinh vật có thể chất. Đặc biệt là hai tấm hình trònkhá rộng, có đóng rợp ở mỗi bên, có thể là những con mắt và giữa hai tấm đó có một vật gì màu trắng, rất vững chãi nho hẳn ra ngoài và cũng cong lại nữa, có vẽ cũng hung dữ như cái mỏ của một con diều hâu.
Toàn thể dáng dấp của con quái vật này thật ghê gớm, đáng sợ. Nó luôn luôn thay đổi màu sắc, chuyển từ màu tím nhạt sáng sủa sang màu đỏ tối sẫm ghê người. Tôi không thể phủ nhận khối thể chất của nó vì nó đã giọi ra một cái bóng khi nó len vào giữa mặt trời và phi cơ. Ở khoảng cong phía trên của mình nó có ba cái bướu lớn mà tôi không biết mô tả thế nào hơn là so sánh chúng với những chỗ da phồng cực lớn. Tôi nghĩ rằng chúng chứa đựng một thứ hơi cực nhẹ dùng để chống đỡ cái khối lượng không hình thù gì và nữa đặc loãng này trong bầu không khí loãng lỏng. Di chuyển một cách nhanh nhẹn, con quái vật đi theo tốc lực chiếc phi cơ một tầng của tôi không cần sự cố gắng nào, trong khoảng độ ba chục cây số bay là là bên trên tôi giống như con chim săn mồi đang sửa soạn nhào xuống nạn nhân của nó. Muốn tiến lên, cách thức của nó là tung ra phía trước một vật gì như một cái ống dài loãn xoãn, bày nhầy, để rồi hình như cái ống này lôi kéo phần còn lại của thân mình. Nó rất chun dãn, có rất nhiều chất dính nên không bao giờ nó giữ nguyên một hình dáng trong hai phút liền, nhưng mỗi sự biến đổi hình dạng lại làm cho nó càng đáng sợ hơn, càng khủng khiếp hơn.
Tôi biết nó là kẻ thù của tôi, mỗi bộ phận đỏ ửng của thân mình nó đề nói lên sự thù hận của nó, những con mắt lớn, không rõ ràng của nó không rời khỏi tôi. Nom chúng lạnh lẽo, tàn độc, bị xao động bởi một hận thù xuất tự tâm can. Tôi hạ thấp mũi phi cơ của tôi như một nhát roi. Khi va chạm phải động cơ nóng bỏng, tôi nghe thấy một tiếng rít sắc nhọn và cái vòi vọt trở lại như là do sự đau đớn bất thần. Tôi muốn nhào thẳng xuống, nhưng một cái vòi lại đâm xuống phi cơ. Cánh quạt đã cắt nó với một sự dễ dàng như cắt một cuộn khói vậy. Một cái ống dài dính vào một cái bể mặt nhẵn lì như nhựa, xé rách nó và tôi được giải thoát nạn trong một lát; nhưng ngay tức khắc một cái ống khác lại quấn vào chân tôi với một sự hung hãn phía sau.
Trước sự tấn công này, tôi nhả đạn cả hai nòng súng của tôi. Đúng là tôi cũng giống như một người đi săn và tấn công con mồi mình bằng chiếc ống sì đồng (ống thổi bắn các viên tròn bất để giết loài chim nhỏ ) nhỏ bé. Làm sao tôi có thể hy vọng rằng một thứ vũ khí của con người mà làm tê liệt được một tiếng nổ vang một trong những viên đạn chì của tôi. Tôi đã đoán đúng: các bướu này căng phồng lên hơn vì khí hơi. Thật sự kẻ thù của tôi đã lăn trên phía bên, vặn vẹo một cách tuyệt vọng để lấy lại thăng bằng cho nó, cái mỏ trắng há ra và gõ lộp bộp vì điên dại, nhưng tôi đã thực hiện một lối nhào thẳng xuống liều lĩnh nhất mà tôi có thể làm thả hết ga. Nói một cách khác, tôi đã rơi xuống theo đúng nghĩa đen của từ, như một cục vân thạch. Từ phía xa đằng sau tôi một vệt đỏ từ từ thu nhỏ lại một cách nhanh chóng, rồi tan lẫn vào màu xanh của nền trời. A! Tôi đã hoàn toàn vô sự thoát khỏi khu rừng già khủng khiếp này của ngoại tầng không gian.
Một khi đã ở ngoài tầm nguy hiểm, tôi đóng ga lại, vì không có gì làm hư hỏng một động cơ tệ hơn là bổ nhào xuống với tất cả sức mạnh của nó. Từ độ cao sấp sỉ mười hai ngàn mét tôi thực hiện việc lượn là theo hình xoáy trôn ốc, thoạt đầu cho tới lơp mây màu bạc rồi tới những đám mây đầy bão tố ở phía dưới và sau hết qua một đám mây mưa dồn dập, cho tới mặt đất. Khi trồi ra khỏi những đám mây, tôi nhìn thấy biển Manche bên dưới tôi, vì tôi còn lại được đôi chút ít xăng tôi vượt đi bộ ba chục cây số trong nội địa và tôi đáp xuống một cánh đồng, cách làng Ashcombe nửa cây số. Ở đó, tôi đi mua ba bình ét xăng. Lúc sáu giờ mươi phút buổi chiều tôi đạu xuống bãi Davizé của tôi sau một chuyến du hành mà không một người nào trước tôi trên trái đất đã đi chót lọt để kể truyện về chuyến đi của mình. Tôi đã nhìn thấy vẻ đẹp và sự khủng khiếp ở giữa trời cao! Cái đẹp và sự khủng khiếp vượt khỏi tất cả những gì mà con người đã thấy trên trái đất.
Bây giờ chương trình của tôi là lại bay lên một lần nữa trước khi loan báo những kết quả của tôi với thế giới, phải làm như vậy. Tôi phải màng về một thứ bằng chứng nào trước khi làm bận tâm các đồng bào của tôi về một câu chuyện như vậy! tất nhiên những phi hành gia khác rồi đây sẽ xác nhận những lời nói của tôi, nhưng tôi muốn có ngay lòng tin của công chúng. Những cái bọtkhông khí đẹp đẽ để lóng lánh nhiều màu sắc đó nhất định là phải bắt được; chúng bay đi một cách chậm chạp, một phi cơ một tầng cánh bay nhanh có thể ngăn chặn được chúng. Rất có thể là chúng sẽ tan đi trong lớp khí quyển nặng hơn và tôi sẽ chỉ mang về mặt đất một đống băng nhỏ không có hình dạng gì, việc đó không quan trọng: ít nhất tôi cũng sẽ có một cái gì đó để xác quyết câu chuyện của tôi. Được tôi sẽ lại bay lên, ngay dù tôi có thể gặp những hiểm hoạ lớn hơn! Những con quái vật đỏ đó có vẻ không nhiều, chắc chắn là tôi sẽ không thấy một con nào, nếu tôi nhìn thấy một con, tôi sẽ trêu chọc ngay. Khi cần tới, tôi sẽ dùng tới khẩu súng và sự hiểu biết của tôi về…..”
Tới đây, bất hạnh thay một trang của tập viết tay bị mất. Ở trang tiếp theo, những chữ này được viết nguệch ngoạc: ” Mười ba ngàn một trăm mét. Không bao giờ tôi còn thấy lại trái đất nữa. Chúng có ba con ở phía dưới tôi. Xin thượng đế phù hộ cho tôi, chết như thế này thật là ác độc!”
Đây là tất cả câu chuyện về Joyce – Armstrong, không bao giờ người ta còn biết một tin tức gì về người phi công ấy nữa, những mạnh vụn của chiếc phi cơ một tầng cánh của ông đã được nhận ra trong khu rừng săn bắn của ông Buddlushington, trên ranh giới hai quận Kent và Susex, cách nơi quyển sổ tay được phát hiện vài cây số. Nếu giả thiết của nhà phi hành gia xấu số là đúng, nếu khu rừng già trên không trung, như ông ấy gọi tên, quả thật hiện hữu bên trên miền Tây Nam nước Anh, thì chắc ông đã phải mở hết tốc lực để chạy trốn. Nhưng ông đã bị bắt kịp và bị nhai nuốt ngấu nghiến bởi những quái vật khủng khiếp đó bên trên nơi mà phi cơ đổ xuống. Hình ảnh chiếc phi cơ một tầng cánh đang từ trên trời lao xuống, với sự khủng khiếp vô kể xông ra cản đường nó về mặt đất và mau chóng xiết vòng vây vào nạn nhân của chúng là những hình ảnh làm cho một người có đầu óc quân bình không ham sống lâu dài nữa. Tôi biết rằng những người có tính hoài nghi sẽ cười chế nhạo trước sự trình bày các sự việc, nhưng rút lại họ cũng sẽ phải nhìn nhận sự mất tích của Joyce – Armstrong! Tôi khuyên họ nên suy ngẵm về hai câu của ông ấy ” Quyển sổ tay này sẽ chứng nhận những điều tôi định làm và tôi đã thiệt mạng ra sao khi thử làm việc đó. Nhưng xin đừng nói chuyện lẩm cẩm, vớ vẩn về một ”tai nạn” hay một sự ” bí ẩn”!